Điều kiện của sản phẩm
Vi phạm liên quan nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến và các điều kiện ATTP của sản phẩm.
Nghị định 115/2018/NĐ-CP hiện vẫn còn hiệu lực và là văn bản chính quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, khi xác định mức phạt năm 2026, doanh nghiệp phải đọc Nghị định này cùng Nghị định 124/2021/NĐ-CP đã sửa đổi nhiều điều quan trọng, đặc biệt là nguyên tắc mức phạt đối với cá nhân, tổ chức và Điều 18 về Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.
1. Nghị định 115/2018/NĐ-CP vẫn còn hiệu lực.
2. Phải đọc cùng Nghị định 124/2021/NĐ-CP. Không nên dùng nguyên mức phạt trong bản Nghị định 115 ban đầu.
3. Phần lớn mức phạt tại Chương II là mức đối với cá nhân; tổ chức thường bị phạt gấp đôi.
4. Riêng một số điều, trong đó có Điều 18, mức phạt được quy định trực tiếp cho tổ chức. Cá nhân vi phạm tại các điều này bị giảm một nửa.
5. Không có Giấy chứng nhận chỉ bị xử phạt khi cơ sở thực sự thuộc diện bắt buộc phải có giấy.
6. Hà Nội có quy định riêng tăng mức phạt đối với một số hành vi ATTP; không được nhầm mức của Hà Nội với mức áp dụng chung toàn quốc.
Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức tiền phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
Đây là văn bản về xử phạt. Muốn xác định doanh nghiệp có vi phạm hay không, trước hết phải kiểm tra nghĩa vụ được quy định tại Luật An toàn thực phẩm, Nghị định 15/2018/NĐ-CP và các văn bản chuyên ngành tương ứng. Sau đó mới đối chiếu Nghị định 115 để xác định chế tài.
Ví dụ: trước khi áp dụng Điều 18 vì “không có Giấy chứng nhận ATTP”, phải kiểm tra cơ sở có thuộc diện bắt buộc phải có Giấy chứng nhận hay thuộc trường hợp không phải cấp theo Điều 12 Nghị định 15/2018/NĐ-CP.

Có. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật hiện ghi nhận Nghị định 115/2018/NĐ-CP ở trạng thái còn hiệu lực.
Tuy nhiên, văn bản đã được sửa đổi, bổ sung quan trọng bởi Nghị định 124/2021/NĐ-CP, có hiệu lực từ 01/01/2022. Vì vậy, khi tra một điều khoản, doanh nghiệp cần kiểm tra nội dung sau sửa đổi thay vì chỉ đọc bản ban hành năm 2018.
Nghị định 124/2021/NĐ-CP sửa nhiều nội dung của Nghị định 115, trong đó doanh nghiệp nên đặc biệt chú ý:
Mức phạt tiền tối đa thông thường về ATTP là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức. Với một số hành vi đặc biệt, Nghị định cho phép xác định mức phạt theo giá trị thực phẩm vi phạm; trong những trường hợp được quy định, mức tối đa có thể đến 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm.
Đây là phần dễ bị đọc sai nhất của Nghị định 115.
| Trường hợp | Cách đọc mức phạt |
|---|---|
| Phần lớn hành vi tại Chương II | Mức ghi trong điều khoản là mức đối với cá nhân. Tổ chức thực hiện cùng hành vi bị phạt gấp 02 lần. |
| Các điều được Điều 3 liệt kê riêng, trong đó có Điều 18 | Mức ghi trong điều khoản là mức đối với tổ chức. Cá nhân vi phạm bị giảm một nửa. |
Không được lấy mức tại Điều 18 rồi nhân đôi thêm cho doanh nghiệp. Điều 18 đã là mức phạt dành cho tổ chức theo Điều 3 Nghị định 115 sau khi được Nghị định 124/2021 sửa đổi.
Vi phạm liên quan nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến và các điều kiện ATTP của sản phẩm.
Vi phạm về vệ sinh, thiết bị, con người, nước, bảo quản và điều kiện sản xuất, kinh doanh.
Hoạt động khi thuộc diện bắt buộc phải có giấy nhưng không có hoặc giấy đã hết hiệu lực.
Vi phạm nghĩa vụ tự công bố hoặc đăng ký bản công bố theo trường hợp áp dụng.
Vi phạm trong kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, thu hồi hoặc xử lý thực phẩm không an toàn.
Vi phạm điều kiện nhập khẩu, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, GMP và các yêu cầu chuyên ngành.
Điều 18 Nghị định 115/2018/NĐ-CP, sau khi được Nghị định 124/2021/NĐ-CP sửa đổi, quy định trực tiếp mức tiền phạt đối với tổ chức như sau:
| Hành vi | Mức phạt đối với tổ chức trên toàn quốc |
|---|---|
| Kinh doanh dịch vụ ăn uống mà không có Giấy chứng nhận hoặc giấy đã hết hiệu lực, khi thuộc diện bắt buộc phải có | 20.000.000 – 30.000.000 đồng |
| Sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà không có Giấy chứng nhận hoặc giấy đã hết hiệu lực, khi thuộc diện bắt buộc phải có | 30.000.000 – 40.000.000 đồng |
| Một số hành vi liên quan sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe không có Giấy chứng nhận GMP/GMP hết hiệu lực hoặc trường hợp chuyển tiếp GMP theo Điều 18 | 40.000.000 – 60.000.000 đồng |
Đối với cá nhân thực hiện các hành vi thuộc Điều 18, mức phạt được giảm một nửa theo Điều 3.
Quan trọng: các mức trên không áp dụng cho cơ sở thuộc trường hợp không phải cấp Giấy chứng nhận. Ví dụ, một số cơ sở được miễn theo Điều 12 Nghị định 15/2018/NĐ-CP không thể bị xử phạt Điều 18 chỉ vì không có giấy.
Không có một mức phạt chung kiểu “cơ sở mất vệ sinh = 10–20 triệu đồng”. Nghị định chia hành vi theo từng loại cơ sở và từng lỗi cụ thể.
Ví dụ, mức phạt có thể khác nhau tùy việc:
Do đó, muốn xác định mức phạt phải tìm đúng hành vi tại đúng điều khoản, sau đó mới áp dụng quy tắc cá nhân/tổ chức tại Điều 3.
Giấy chứng nhận của cơ sở và thủ tục đối với sản phẩm là hai vấn đề khác nhau. Một doanh nghiệp có cơ sở đủ điều kiện ATTP nhưng vẫn có thể vi phạm nếu sản phẩm thuộc diện:
Mức phạt cần xác định theo đúng hành vi và tình trạng pháp lý của từng sản phẩm, không nên dùng một mức tiền chung cho tất cả lỗi công bố.
Nghị định 115 cũng xử lý nhiều hành vi liên quan đến kiểm nghiệm, truy xuất và xử lý thực phẩm không an toàn. Một số mức phạt còn phụ thuộc trực tiếp vào giá trị thực phẩm vi phạm.
Vì vậy, các cách viết như “nguyên liệu không rõ nguồn gốc bị phạt 30–50 triệu” hoặc “thực phẩm hết hạn bị phạt tối đa 70 triệu” không nên áp dụng như quy tắc chung. Cần xác định:

Không. Vi phạm liên quan thực phẩm có thể đồng thời nằm trong nhiều văn bản xử phạt khác nhau.
Đối với quảng cáo thực phẩm, đặc biệt thực phẩm bảo vệ sức khỏe, cần kiểm tra thêm pháp luật xử phạt trong lĩnh vực quảng cáo, trong đó có Nghị định 38/2021/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi nếu áp dụng.
Đối với ghi nhãn, còn phải kiểm tra hệ thống pháp luật về nhãn hàng hóa, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa.
Không nên chỉ tra Nghị định 115 rồi kết luận mức phạt cho mọi lỗi quảng cáo hoặc nhãn. Cơ quan xử phạt phải xác định đúng văn bản điều chỉnh hành vi cụ thể và tránh xử phạt trùng một hành vi trái pháp luật.
Tùy từng hành vi, Nghị định 115 có thể áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như:
Không có một quy tắc chung rằng “mọi vi phạm đều đình chỉ 1–3 tháng” hoặc “mọi sản phẩm vi phạm đều bị thu hồi toàn bộ”. Phải xem đúng khoản xử phạt.
Có. Nghị quyết 49/2024/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quy định mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính về ATTP trên địa bàn thành phố.
Nguyên tắc của Nghị quyết là một số mức tiền phạt được áp dụng bằng 02 lần mức tương ứng tại Nghị định 115/2018/NĐ-CP, trong giới hạn pháp luật cho phép.
Ví dụ với Điều 18 tại Hà Nội:
| Hành vi | Mức chung toàn quốc đối với tổ chức | Mức tại Hà Nội theo Nghị quyết 49/2024/NQ-HĐND |
|---|---|---|
| Dịch vụ ăn uống thuộc diện phải có giấy nhưng không có/giấy hết hiệu lực | 20–30 triệu | 40–60 triệu |
| Sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc diện phải có giấy nhưng không có/giấy hết hiệu lực | 30–40 triệu | 60–80 triệu |
| Một số vi phạm GMP tại khoản 3 Điều 18 | 40–60 triệu | 80–120 triệu |
Vì vậy, khi doanh nghiệp hoạt động tại Hà Nội, không nên chỉ lấy mức phạt chung của Nghị định 115 mà bỏ qua quy định địa phương đang có hiệu lực.
Không chỉ đọc tên lỗi; cần xem điều, khoản, tình tiết và tài liệu mà đoàn kiểm tra dùng làm căn cứ.
Xác định doanh nghiệp có thực sự thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ đó hay không.
Đối chiếu Điều 3 trước khi tính số tiền.
Một số hành vi tính theo giá trị thực phẩm; đồng thời cần rà tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nếu có.
Xác định việc thu hồi, tiêu hủy, đình chỉ hoặc biện pháp khác có đúng điều khoản áp dụng hay không.
Tập hợp giấy phép, hồ sơ công bố, hợp đồng, hóa đơn, hồ sơ kiểm nghiệm, tài liệu truy xuất và tài liệu khắc phục.
Nếu không đồng ý với quyết định xử phạt, doanh nghiệp có quyền sử dụng các cơ chế pháp lý phù hợp như khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định.
Có. Tuy nhiên phải đọc cùng Nghị định 124/2021/NĐ-CP đã sửa đổi nhiều nội dung quan trọng.
Phần lớn mức tại Chương II là của cá nhân và tổ chức bị phạt gấp đôi. Tuy nhiên một số điều, trong đó có Điều 18, quy định trực tiếp mức của tổ chức; cá nhân bị giảm một nửa.
Nếu thuộc diện bắt buộc phải có Giấy chứng nhận, mức toàn quốc tại khoản 1 Điều 18 là 20–30 triệu đồng đối với tổ chức. Tại Hà Nội, Nghị quyết 49/2024/NQ-HĐND quy định mức 40–60 triệu đồng cho hành vi tương ứng.
Không áp dụng Điều 18 chỉ vì không có giấy nếu cơ sở thuộc trường hợp không phải cấp Giấy chứng nhận. Tuy nhiên cơ sở vẫn có thể bị xử phạt nếu vi phạm các điều kiện ATTP khác.
Không phải trong mọi trường hợp. 200 triệu đồng là mức tối đa thông thường; một số hành vi có cơ chế tính theo giá trị thực phẩm vi phạm và có ngoại lệ được Nghị định quy định riêng.
Không. Cần kiểm tra thêm pháp luật xử phạt về quảng cáo và văn bản chuyên ngành áp dụng cho loại sản phẩm, nội dung quảng cáo cụ thể.
Luật Dương Trí có thể rà hành vi bị ghi nhận, căn cứ pháp lý, mức phạt dành cho cá nhân/tổ chức, tình trạng giấy phép hoặc hồ sơ sản phẩm, biện pháp khắc phục và tài liệu giải trình. Việc xác định đúng điều khoản ngay từ đầu giúp doanh nghiệp biết phần nào cần khắc phục, phần nào cần giải trình và khi nào nên thực hiện khiếu nại hoặc khởi kiện.