Quy định về tiền thưởng trong doanh nghiệp được điều chỉnh rõ ràng bởi các Nghị định của Chính phủ, nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc trả lương, thưởng cho người lao động. Nghị định 44/2025/NĐ-CP quy định về tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước, nhấn mạnh việc gắn tiền thưởng với năng suất lao động và hiệu quả công việc. Bài viết này sẽ giới thiệu chi tiết về các quy định mới trong Nghị định, phương pháp xác định quỹ tiền lương và tiền thưởng, giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng luật pháp và phát triển bền vững.
1. Tiền lương và thưởng phải gắn với nhiệm vụ, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh
Ngày 28/2/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 44/2025/NĐ-CP quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước. Nghị định 44/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 15/4/2025.
Nghị định quy định tiền thưởng và các nguyên tắc quản lý lao động, tiền lương, thù lao trong doanh nghiệp. Theo đó, tiền lương, tiền thưởng, thù lao trong doanh nghiệp được xác định gắn liền với nhiệm vụ, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phù hợp với ngành nghề, tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Mục tiêu là đảm bảo mặt bằng tiền lương hợp lý trên thị trường, đồng thời xây dựng cơ chế tiền lương hợp lý để doanh nghiệp thu hút, khuyến khích đội ngũ nhân lực, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao được Nhà nước ưu tiên phát triển.
Nhà nước sẽ thực hiện quản lý tiền thưởng, tiền lương đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thông qua việc giao nhiệm vụ và trách nhiệm cho cơ quan đại diện chủ sở hữu. Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết, việc quản lý tiền thưởng, tiền lương sẽ được thực hiện thông qua cơ quan đại diện chủ sở hữu, với sự tham gia và biểu quyết của người đại diện phần vốn nhà nước trong các cuộc họp của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.
Bên cạnh đó, việc tách bạch tiền lương và thù lao của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên với tiền lương của Ban điều hành là một yêu cầu quan trọng theo quy định tiền thưởng trong Nghị định này.

2. Phương pháp xác định Quỹ tiền lương của người lao động và Ban điều hành
Nghị định quy định tiền thưởng và cách xác định Quỹ tiền lương của người lao động và Ban điều hành theo các phương pháp sau:
- Xác định quỹ tiền lương thông qua mức tiền lương bình quân.
- Xác định quỹ tiền lương thông qua đơn giá tiền lương ổn định, áp dụng cho các doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động ít nhất bằng thời gian dự kiến áp dụng đơn giá tiền lương ổn định.
Tùy theo nhiệm vụ, tính chất ngành nghề và điều kiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp sẽ quyết định lựa chọn một trong hai phương pháp xác định quỹ tiền lương nêu trên. Đối với doanh nghiệp có nhiều lĩnh vực hoạt động, có thể phân tách chỉ tiêu lao động và tài chính để tính năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh tương ứng với từng lĩnh vực hoạt động, và lựa chọn phương pháp phù hợp.
Đối với doanh nghiệp chọn phương pháp xác định quỹ tiền lương theo đơn giá tiền lương ổn định, cần duy trì phương pháp này trong suốt thời gian áp dụng đơn giá tiền lương đã chọn. Trong trường hợp có thay đổi lớn về chiến lược kinh doanh, chức năng, nhiệm vụ hay tổ chức bộ máy mà ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu trước khi thực hiện điều chỉnh.
Những quy định tiền thưởng và tiền lương trong Nghị định này nhằm tạo ra một cơ chế minh bạch và hợp lý trong việc chi trả tiền thưởng, giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững. Các quy định tiền thưởng này còn tạo nền tảng vững chắc cho việc điều hành và quản lý quỹ tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo công bằng và chính xác trong phân phối lợi ích.

3. Mức tiền lương của Giám đốc không vượt quá 10 lần mức tiền lương bình quân của người lao động
Về phân phối tiền lương, Nghị định quy định tiền thưởng và cách thức trả lương đối với người lao động và Ban điều hành theo quy chế trả lương do doanh nghiệp ban hành. Cụ thể:
Tiền lương của người lao động được trả dựa trên vị trí chức danh hoặc công việc, gắn với năng suất lao động và mức đóng góp của từng cá nhân vào kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền lương của Ban điều hành được xác định theo chức danh, chức vụ và kết quả sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, mức tiền lương của Tổng giám đốc, Giám đốc (trừ trường hợp Tổng giám đốc, Giám đốc được thuê làm việc theo hợp đồng lao động) tối đa không được vượt quá 10 lần so với mức tiền lương bình quân của người lao động.
Khi xây dựng quy chế trả lương, doanh nghiệp phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đối thoại tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật lao động. Sau đó, doanh nghiệp cần báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu để kiểm tra, giám sát và công khai tại doanh nghiệp trước khi thực hiện.
Mức lương cơ bản của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên làm việc chuyên trách
Theo Nghị định quy định tiền thưởng, mức lương cơ bản của Thành viên hội đồng và Kiểm soát viên làm việc chuyên trách sẽ được xác định dựa trên các mức quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 44/2025/NĐ-CP.
Hằng năm, doanh nghiệp cần căn cứ vào các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh kế hoạch để xác định mức lương cơ bản, từ đó tính toán mức tiền lương kế hoạch của từng Thành viên hội đồng và Kiểm soát viên.
4. Mức tiền lương của Giám đốc không vượt quá 10 lần mức tiền lương bình quân của người lao động
Về phân phối tiền lương, Nghị định quy định tiền thưởng nêu rõ rằng người lao động và Ban điều hành sẽ được trả lương theo quy chế trả lương do doanh nghiệp ban hành. Cụ thể:
Tiền lương của người lao động được xác định theo vị trí chức danh hoặc công việc, gắn với năng suất lao động và mức đóng góp của từng người vào kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền lương của Ban điều hành được xác định theo chức danh, chức vụ và kết quả sản xuất, kinh doanh. Trong đó, mức tiền lương của Tổng giám đốc, Giám đốc (trừ trường hợp Tổng giám đốc, Giám đốc được thuê làm việc theo hợp đồng lao động) không được vượt quá 10 lần mức tiền lương bình quân của người lao động.
Khi xây dựng quy chế trả lương, doanh nghiệp phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đối thoại tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật lao động, và báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu để kiểm tra, giám sát và công khai quy chế tại doanh nghiệp trước khi thực hiện. Những quy định này sẽ giúp đảm bảo việc chi trả tiền thưởng và tiền lương hợp lý trong doanh nghiệp, tránh tình trạng phân bổ không công bằng.

5. Mức lương cơ bản của Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên làm việc chuyên trách
Theo Nghị định quy định tiền thưởng, mức lương cơ bản của Thành viên hội đồng và Kiểm soát viên làm việc chuyên trách được xác định như sau:
Quy định về quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước- Ảnh 2. Đối tượng, điều kiện áp dụng mức 1, mức 2, mức 3, mức 4 của nhóm I và nhóm II thực hiện theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 44/2025/NĐ-CP.
Hằng năm, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh kế hoạch, xác định mức lương cơ bản để tính toán mức tiền lương kế hoạch của từng Thành viên hội đồng và Kiểm soát viên.
6. Bãi bỏ 11 nghị định về quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng
Nội dung này được quy định tại Nghị định 44/2025/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp Nhà nước. Nghị định 44/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/2025. Các chế độ quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 1/1/2025.
Khoản 3 Điều luật này quy định về việc bãi bỏ các Nghị định dưới đây khi Nghị định 44/2025/NĐ-CP có hiệu lực:
(1) Nghị định 51/2016/NĐ-CP quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
(2) Nghị định 52/2016/NĐ-CP quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
(3) Nghị định 53/2016/NĐ-CP quy định về lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước;
(4) Nghị định 21/2024/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 51/2016/NĐ-CP quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định 52/2016/NĐ-CP quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
(5) Nghị định 20/2020/NĐ-CP thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng đối với một tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước;
(6) Nghị định 87/2021/NĐ-CP về kéo dài thời gian thực hiện và sửa đổi, bổ sung một điều của Nghị định 20/2020/NĐ-CP thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng đối với một tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước;
(7) Nghị định 64/2023/NĐ-CP bổ sung Nghị định 87/2021/NĐ-CP về kéo dài thời gian thực hiện và sửa đổi, bổ sung Nghị định 20/2020/NĐ-CP thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng đối với một tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước;
(8) Nghị định 121/2016/NĐ-CP thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với Tập đoàn Viễn thông Quân đội giai đoạn 2016 – 2020;
(9) Nghị định 74/2020/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 121/2016/NĐ-CP thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với Tập đoàn Viễn thông Quân đội giai đoạn 2016 – 2020;
(10) Nghị định 82/2021/NĐ-CP về kéo dài thời gian thực hiện và sửa đổi Nghị định 121/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi tại Nghị định 74/2020/NĐ-CP về thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội;
(11) Nghị định 79/2024/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 121/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi tại Nghị định 74/2020/NĐ-CP và Nghị định 82/2021/NĐ-CP về thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội.