Nhóm có máy chủ doanh nghiệp tham gia vào tương tác
G1 và G2 đều có yếu tố người chơi tương tác với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Điểm khác biệt là G1 có thêm sự tương tác đồng thời giữa nhiều người chơi thông qua hệ thống máy chủ đó.
Game G1, G2, G3, G4 được phân loại theo cách người chơi tương tác với nhau và với hệ thống máy chủ của doanh nghiệp, không phải theo việc game chạy trên mobile, PC, console hay được gọi là game online/offline. Năm 2026, việc phân loại đúng là bước đầu tiên để xác định doanh nghiệp cần Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G1 hay Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ G2, G3, G4, đồng thời xác định thủ tục phát hành đối với từng trò chơi.
Nghị định 147/2024/NĐ-CP chia trò chơi điện tử trên mạng thành bốn loại G1, G2, G3 và G4 theo phương thức cung cấp, sử dụng dịch vụ. Cùng một sản phẩm còn phải được phân loại riêng theo độ tuổi người chơi. Vì vậy, các ký hiệu G1–G4 và 18+, 16+, 12+, 00+ là hai hệ phân loại khác nhau và không thể dùng thay cho nhau.

G1: nhiều người chơi tương tác với nhau đồng thời thông qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp.
G2: người chơi chỉ tương tác với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp, không có tương tác giữa nhiều người chơi với nhau theo cơ chế của G1.
G3: nhiều người chơi có tương tác với nhau nhưng không có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp.
G4: trò chơi được tải về qua mạng nhưng không có sự tương tác giữa người chơi với nhau và cũng không tương tác với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp.
Giấy tờ cần có: G1 đi theo cơ chế Giấy phép cung cấp dịch vụ G1 + Quyết định phát hành cho từng trò chơi; G2, G3, G4 đi theo cơ chế Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ G2, G3, G4 + Giấy xác nhận thông báo phát hành cho từng trò chơi.
Tiêu chí cốt lõi là mô hình tương tác của trò chơi. Khoản 1 Điều 37 Nghị định 147/2024/NĐ-CP không phân loại dựa trên thể loại như nhập vai, chiến thuật, casual, thể thao, bắn súng hay mô phỏng; cũng không lấy thiết bị truy cập làm tiêu chí. Điều cần kiểm tra là người chơi có tương tác với người chơi khác hay không, sự tương tác đó có đi qua máy chủ trò chơi của doanh nghiệp hay không, và người chơi có tương tác với chính hệ thống máy chủ của doanh nghiệp hay không.
G1 và G2 đều có yếu tố người chơi tương tác với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Điểm khác biệt là G1 có thêm sự tương tác đồng thời giữa nhiều người chơi thông qua hệ thống máy chủ đó.
G3 và G4 không có tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. G3 vẫn có tương tác giữa nhiều người chơi; G4 thì không có cả hai loại tương tác.
Tên thương mại không quyết định loại game. Một sản phẩm được giới thiệu là “game mobile online” chưa đủ để kết luận là G1. Ngược lại, một trò chơi tải về thiết bị cũng không mặc nhiên là G4 nếu sau khi cài đặt người chơi vẫn kết nối máy chủ, đồng bộ tài khoản hoặc tham gia tương tác nhiều người chơi theo cơ chế thuộc G1, G2 hoặc G3.
| Tiêu chí | G1 | G2 | G3 | G4 |
|---|---|---|---|---|
| Tương tác giữa nhiều người chơi | Có, đồng thời. | Không phải đặc trưng của loại hình. | Có. | Không. |
| Tương tác với máy chủ trò chơi của doanh nghiệp | Có. | Có. | Không. | Không. |
| Vai trò của máy chủ | Là môi trường trung gian cho nhiều người chơi tương tác đồng thời và vận hành trò chơi. | Máy chủ tương tác trực tiếp với từng người chơi. | Không phải hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp làm trung gian cho tương tác theo định nghĩa G3. | Không có tương tác với máy chủ trò chơi của doanh nghiệp sau khi tải theo mô hình G4. |
| Dấu hiệu nhận biết nhanh | Nhiều người cùng tham gia trận đấu, thế giới, phòng chơi hoặc hoạt động chung qua server của doanh nghiệp. | Người chơi nhận phản hồi, dữ liệu hoặc nội dung từ hệ thống máy chủ nhưng không tương tác với người chơi khác theo mô hình G1. | Người chơi tương tác với nhau nhưng không thông qua tương tác với máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. | Tải game qua mạng và chơi độc lập, không có tương tác người chơi–người chơi hoặc người chơi–server doanh nghiệp. |
| Giấy tờ cấp doanh nghiệp | Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G1 trên mạng. | Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. | ||
| Giấy tờ cho từng trò chơi | Quyết định phát hành trò chơi điện tử G1 trên mạng. | Giấy xác nhận thông báo phát hành trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. | ||
| Cơ quan xử lý thủ tục cấp doanh nghiệp hiện hành | Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử). | Sở Văn hóa và Thể thao/Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo thẩm quyền. | ||
Bảng trên giúp định hướng ban đầu nhưng không thay thế việc rà soát sơ đồ kỹ thuật, gameplay và luồng dữ liệu. Với game có nhiều chế độ chơi, nhiều phiên bản hoặc hệ thống online/offline kết hợp, cần xem từng chức năng thực tế trước khi lựa chọn thủ tục.
Game G1 là trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời thông qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Đây là nhóm thường có kiến trúc máy chủ tham gia trực tiếp vào quá trình nhiều người chơi cùng chơi, cạnh tranh, hợp tác hoặc tương tác trong một môi trường chung.
Điểm cần nhìn không phải là game “có Internet” hay “có server” một cách chung chung. G1 đòi hỏi đồng thời hai thành phần: nhiều người chơi tương tác với nhau và sự tương tác đó diễn ra thông qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp.
Ví dụ mang tính nhận diện, không phải kết luận pháp lý cho từng sản phẩm: nhiều game MMORPG, MOBA, FPS nhiều người chơi hoặc game chiến thuật thời gian thực có server trung tâm thường có dấu hiệu gần với G1. Tuy nhiên, thể loại chỉ là gợi ý; việc phân loại cuối cùng phải dựa vào cơ chế tương tác và kiến trúc thực tế.
Đối với G1, doanh nghiệp không chỉ cần giấy phép ở cấp chủ thể. Trước khi phát hành từng trò chơi, doanh nghiệp còn phải có Quyết định phát hành trò chơi điện tử G1 trên mạng. Xem chi tiết tại Dịch vụ xin Giấy phép Game G1.
Game G2 là trò chơi điện tử chỉ có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Khác với G1, trọng tâm ở đây là mối quan hệ một người chơi – hệ thống máy chủ; trò chơi không được phân loại G2 chỉ vì có chức năng kết nối Internet, mà phải xem hệ thống máy chủ thực tế tham gia vào quá trình chơi như thế nào.
Người chơi gửi yêu cầu hoặc hành động đến hệ thống; máy chủ xử lý và trả kết quả cho chính người chơi đó, trong khi gameplay không tạo ra tương tác đồng thời giữa nhiều người chơi theo cơ chế G1.
Nếu sản phẩm có bảng xếp hạng, chat, giao dịch, ghép trận hoặc tính năng xã hội, cần xác định các chức năng này chỉ là phụ trợ hay đã tạo ra tương tác nhiều người chơi thông qua máy chủ làm thay đổi bản chất phân loại.
Doanh nghiệp cung cấp G2 sử dụng chung cơ chế giấy tờ cấp chủ thể với G3 và G4: Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. Trước khi phát hành từng game, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục để được cấp Giấy xác nhận thông báo phát hành trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng.
Game G3 là trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau nhưng không có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Điểm phân biệt với G1 nằm ở vai trò của hệ thống máy chủ doanh nghiệp trong gameplay.
Với G1, máy chủ doanh nghiệp là môi trường trung gian để nhiều người chơi tương tác đồng thời. Với G3, người chơi vẫn có thể tương tác với nhau, nhưng sự tương tác đó không được thực hiện theo cơ chế người chơi tương tác với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp như định nghĩa của G1/G2.
G3 là nhóm dễ bị phân loại nhầm khi chỉ đọc mô tả marketing. Nếu sản phẩm sử dụng kết nối ngang hàng, kết nối cục bộ hoặc cơ chế khác giữa người chơi, cần kiểm tra thêm việc xác thực, ghép kết nối, đồng bộ dữ liệu, lưu trạng thái và máy chủ phụ trợ để xác định hệ thống nào thực sự tham gia vào gameplay.
Game G4 là trò chơi điện tử được tải về qua mạng, không có sự tương tác giữa người chơi với nhau và không có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Đây là nhóm gần với mô hình tải game về và chơi độc lập trên thiết bị.
Tuy nhiên, “tải về rồi chơi” chưa đủ để gọi là G4. Nhiều game mobile hoặc PC hiện nay vẫn yêu cầu đăng nhập, đồng bộ dữ liệu, tải nội dung động, xác thực tài khoản hoặc kết nối server trong quá trình chơi. Nếu các kết nối đó tạo ra sự tương tác thuộc định nghĩa G1 hoặc G2, sản phẩm cần được đánh giá theo đúng cơ chế thực tế.
Không. Nền tảng phân phối và thiết bị truy cập không phải tiêu chí pháp lý để chia G1–G4. Một game mobile có thể là G1, G2 hoặc G4 tùy cơ chế tương tác. Tương tự, một game PC tải từ website hoặc nền tảng phân phối số vẫn có thể là G1 nếu nhiều người chơi tương tác đồng thời qua hệ thống máy chủ của doanh nghiệp.
| Tình huống | Kết luận có thể rút ra ngay? | Cần kiểm tra gì thêm? |
|---|---|---|
| Game phát hành trên App Store/Google Play | Không xác định được G1–G4 chỉ từ kho ứng dụng. | Gameplay, server, tài khoản, multiplayer, đồng bộ dữ liệu và tương tác người chơi. |
| Game mobile có Internet | Không mặc nhiên là G1. | Internet dùng để tải dữ liệu, quảng cáo, đồng bộ hay để nhiều người chơi tương tác qua server. |
| Game tải về PC rồi chơi | Không mặc nhiên là G4. | Sau khi cài đặt còn kết nối server, đăng nhập, multiplayer hoặc đồng bộ tiến trình hay không. |
| Game có leaderboard | Chưa đủ để kết luận. | Bảng xếp hạng chỉ nhận dữ liệu kết quả hay tạo ra tương tác người chơi trong gameplay. |
| Game có chat | Chưa đủ để phân loại. | Chat nằm ngoài gameplay hay gắn với một môi trường nhiều người chơi vận hành qua server. |
Cần tách hai lớp thủ tục: giấy tờ cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và giấy tờ cho từng trò chơi được phát hành. Đây là điểm thường bị bỏ sót khi doanh nghiệp chỉ hỏi “xin một giấy phép game có đủ cho tất cả game hay không”.
| Nhóm | Lớp 1: Giấy tờ cấp doanh nghiệp | Lớp 2: Giấy tờ cho từng trò chơi | Cơ quan xử lý chính | Thời hạn giấy tờ cấp doanh nghiệp |
|---|---|---|---|---|
| G1 | Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G1 trên mạng. | Quyết định phát hành trò chơi điện tử G1 trên mạng. | Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử). | Theo đề nghị nhưng tối đa 10 năm. |
| G2, G3, G4 | Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. | Giấy xác nhận thông báo phát hành trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. | Giấy chứng nhận và xác nhận phát hành do Sở Văn hóa và Thể thao/Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giải quyết theo thẩm quyền hiện hành. | Theo đề nghị nhưng tối đa 10 năm. |
Doanh nghiệp muốn phát hành G1 phải có Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G1. Sau đó, đối với từng trò chơi G1 dự kiến đưa ra thị trường, doanh nghiệp tiếp tục thực hiện thủ tục cấp Quyết định phát hành trò chơi điện tử G1.
Theo thủ tục hành chính đang được công bố, thời hạn giải quyết hồ sơ cấp Giấy phép G1 là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; thủ tục cấp Quyết định phát hành G1 cũng được cơ quan quản lý tổ chức thẩm định trong thời hạn công bố là 20 ngày kể từ hồ sơ hợp lệ. Thời gian thực tế của dự án cần tính thêm khoảng chuẩn bị, chỉnh sửa hồ sơ, hoàn thiện hệ thống và xử lý yêu cầu bổ sung nếu có.
Nghị định 116/2026/NĐ-CP còn sửa quy định về thời hạn của Quyết định phát hành G1: thời hạn gắn với thời hạn của văn bản thỏa thuận cho doanh nghiệp được phát hành trò chơi tại Việt Nam nhưng không quá 05 năm.
Doanh nghiệp cung cấp G2, G3 hoặc G4 cần Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. Thủ tục hiện hành được công bố tại cơ quan quản lý địa phương với thời hạn giải quyết 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
Trước khi chính thức phát hành từng trò chơi, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ thông báo phát hành để được cấp Giấy xác nhận thông báo phát hành trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. Theo quy định đã được sửa đổi năm 2026, cơ quan có thẩm quyền thẩm định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ; thời hạn Giấy xác nhận gắn với quyền phát hành tại Việt Nam nhưng không quá 05 năm.
Điểm cần nhớ: “Giấy phép/giấy chứng nhận của doanh nghiệp” và “quyết định/giấy xác nhận cho từng game” là hai tầng khác nhau. Việc doanh nghiệp đã có giấy tờ cấp chủ thể không đồng nghĩa mọi trò chơi mới có thể tự động mở cung cấp tại Việt Nam.
Xem thêm Dịch vụ xin giấy phép Game G1, G2, G3, G4 và Giấy phép Game G2, G3, G4.
G1–G4 phân loại theo phương thức cung cấp và tương tác; 18+/16+/12+/00+ phân loại theo độ tuổi người chơi. Một trò chơi sau khi xác định là G1 vẫn phải tiếp tục xác định thuộc nhóm tuổi phù hợp. Hai hệ phân loại tồn tại song song.
| Nhóm tuổi | Ý nghĩa chính | Điểm nội dung được pháp luật xem xét |
|---|---|---|
| 18+ | Dành cho người chơi từ 18 tuổi trở lên. | Có thể có hoạt động đối kháng/chiến đấu với hình ảnh vũ khí cận cảnh, nhân vật mô phỏng người thật trong giới hạn nội dung pháp luật cho phép; không được có nội dung khiêu dâm và các nội dung bị cấm. |
| 16+ | Dành cho người chơi từ 16 tuổi trở lên. | Yêu cầu hạn chế mạnh hơn về hình ảnh nhạy cảm và tính chất bạo lực trong hoạt động đối kháng. |
| 12+ | Dành cho người chơi từ 12 tuổi trở lên. | Hoạt động đối kháng, hình ảnh vũ khí và nhân vật phải ở mức phù hợp hơn với nhóm tuổi; pháp luật mô tả cụ thể cách thể hiện hoạt họa và việc tiết chế hình ảnh, âm thanh. |
| 00+ | Dành cho mọi lứa tuổi. | Mô hình hoạt hình, không có đối kháng bằng vũ khí, không có nội dung kinh dị, bạo lực hoặc hình ảnh/ngôn ngữ không phù hợp theo tiêu chí của Nghị định. |
Việc phân loại độ tuổi không chỉ xuất hiện trên hồ sơ. Hệ thống kỹ thuật còn phải bảo đảm hiển thị liên tục kết quả phân loại theo độ tuổi khi giới thiệu, quảng cáo và cung cấp trò chơi theo yêu cầu áp dụng cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.
Để phân loại sát với sản phẩm thực tế, doanh nghiệp nên bắt đầu từ tài liệu kỹ thuật và gameplay thay vì tên gọi. Một quy trình rà soát ngắn có thể thực hiện như sau:
Kiểm tra trận đấu nhiều người, co-op, PvP, guild, phòng chơi, trao đổi trực tiếp hoặc cơ chế mà hành động của một người tác động đến người khác trong quá trình chơi.
Làm rõ server xác thực, server game, matchmaking, database, relay, peer-to-peer, cloud service và chức năng của từng hệ thống. Không gộp tất cả thành một khái niệm “có server”.
Nếu nhiều người tương tác đồng thời thông qua máy chủ trò chơi của doanh nghiệp, dấu hiệu G1 rõ hơn. Nếu người chơi chỉ tương tác với server mà không tương tác với người khác, cần rà soát theo hướng G2.
Một game có thể có single-player, multiplayer, event online hoặc phiên bản khác nhau. Cần rà toàn bộ tính năng dự kiến cung cấp tại Việt Nam chứ không chỉ màn hình chính.
Sau khi xác định nhóm G1–G4, kiểm tra doanh nghiệp phát hành, quyền phát hành tại Việt Nam, tên miền/kênh phân phối, máy chủ, tài khoản người chơi và lộ trình giấy tờ tương ứng.
Bộ tài liệu hữu ích để phân loại: video gameplay; flow đăng ký – đăng nhập; sơ đồ server/network; mô tả matchmaking; danh sách API kết nối; luồng lưu dữ liệu người chơi; tài liệu thanh toán; danh sách chế độ chơi; catalogue/technical document của nhà phát triển và bản dự kiến phát hành tại Việt Nam.
| Tình huống | Hướng rà soát | Lý do |
|---|---|---|
| Nhiều người cùng vào một trận đấu được server doanh nghiệp duy trì và đồng bộ | Rà soát theo hướng G1. | Có tương tác nhiều người chơi đồng thời thông qua hệ thống máy chủ trò chơi. |
| Người chơi chiến đấu với hệ thống/AI, dữ liệu trận đấu do server xử lý nhưng không chơi cùng người khác | Rà soát theo hướng G2. | Trọng tâm là tương tác người chơi – máy chủ. |
| Hai hoặc nhiều người kết nối với nhau theo cơ chế không có tương tác với máy chủ trò chơi doanh nghiệp | Rà soát theo hướng G3. | Có tương tác người chơi – người chơi nhưng không có tương tác người chơi – server doanh nghiệp theo định nghĩa. |
| Tải trò chơi về máy, chơi độc lập, không kết nối người chơi khác và không tương tác server doanh nghiệp | Rà soát theo hướng G4. | Phù hợp các dấu hiệu cơ bản của G4. |
| Game “offline” nhưng bắt buộc đăng nhập server, đồng bộ tiến trình hoặc nhận nội dung từ máy chủ trong quá trình chơi | Chưa thể coi là G4. | Cần xác định mức độ và bản chất tương tác với hệ thống máy chủ. |
| Game single-player nhưng có bảng xếp hạng online | Cần rà soát kỹ. | Phải phân biệt chức năng phụ trợ với chính gameplay và xem máy chủ xử lý dữ liệu như thế nào. |
| Game có nhiều chế độ: campaign offline + multiplayer online | Không phân loại chỉ theo chế độ offline. | Phiên bản phát hành thực tế có chức năng multiplayer cần được đưa vào quá trình xác định loại hình. |
Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng cho người sử dụng tại Việt Nam, kể cả cung cấp xuyên biên giới, phải thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam để thực hiện cung cấp dịch vụ theo Nghị định 147/2024/NĐ-CP và pháp luật về đầu tư nước ngoài.
Vì vậy, khi một studio hoặc publisher nước ngoài muốn đưa game vào Việt Nam, việc đầu tiên không chỉ là xác định G1/G2/G3/G4. Cần rà soát đồng thời chủ thể phát hành tại Việt Nam, quyền phát hành, mô hình hợp đồng, ngành nghề của doanh nghiệp, hệ thống kỹ thuật, kênh phân phối và giấy tờ áp dụng cho trò chơi.
Đặc biệt từ năm 2026, thời hạn của giấy tờ phát hành từng game được gắn chặt hơn với thời hạn của văn bản về quyền phát hành tại Việt Nam và bị giới hạn tối đa 05 năm. Vì vậy, thời hạn hợp đồng/license agreement không nên được tách rời khỏi kế hoạch xin giấy tờ phát hành.
Phân loại G1–G4 chỉ là bước đầu. Nghị định 147/2024/NĐ-CP đặt ra một nhóm điều kiện kỹ thuật và quản trị áp dụng đối với doanh nghiệp cung cấp trò chơi điện tử trên mạng. Khi thiết kế sản phẩm, doanh nghiệp nên kiểm tra sớm vì nhiều yêu cầu liên quan trực tiếp đến kiến trúc tài khoản và hệ thống.
Hệ thống phải lưu trữ, cập nhật thông tin người chơi tại Việt Nam theo quy định và thực hiện xác thực tài khoản bằng số điện thoại di động tại Việt Nam; chỉ tài khoản đã xác thực mới được tham gia chơi theo điều kiện áp dụng.
Cha, mẹ hoặc người giám hộ đăng ký tài khoản bằng thông tin của mình và có trách nhiệm giám sát, quản lý thời gian chơi và nội dung trò chơi của người chơi dưới 16 tuổi.
Hệ thống phải có khả năng quản lý thời gian chơi trong ngày: không quá 60 phút đối với từng trò chơi và không quá 180 phút/ngày đối với tất cả trò chơi dành cho người dưới 18 tuổi do doanh nghiệp cung cấp.
Kết quả phân loại theo độ tuổi phải được hiển thị khi giới thiệu, quảng cáo và cung cấp trò chơi; hệ thống còn phải hiển thị cảnh báo sức khỏe theo tần suất và vị trí luật định.
Hệ thống cần bảo đảm cập nhật, lưu trữ chính xác thông tin liên quan đến thanh toán, vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng và cho phép người chơi tra cứu thông tin theo yêu cầu pháp luật.
Cần có phương án bảo đảm an toàn thông tin mạng, an ninh thông tin, quyền lợi người chơi, thiết bị/kết nối dự phòng và sao lưu dữ liệu khi xảy ra sự cố.
Các yêu cầu này giải thích vì sao việc phân loại nên được thực hiện từ giai đoạn thiết kế sản phẩm. Nếu chỉ xác định loại game sau khi server, tài khoản, thanh toán và luồng dữ liệu đã hoàn thiện, doanh nghiệp có thể phải sửa kiến trúc để đáp ứng điều kiện cấp phép.
Không đúng. G2 cũng có tương tác với máy chủ; G3 có tương tác giữa người chơi nhưng không theo cơ chế server doanh nghiệp; G4 vẫn là trò chơi được tải về qua mạng. Phải dựa vào loại tương tác cụ thể.
Thiết bị không phải tiêu chí phân loại. Cả mobile và PC đều có thể chứa các mô hình tương tác khác nhau.
Giấy phép G1 là giấy tờ cấp doanh nghiệp. Từng game G1 vẫn cần Quyết định phát hành theo quy định.
Doanh nghiệp cần Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ G2, G3, G4 và trước từng game phải thực hiện thủ tục để được cấp Giấy xác nhận thông báo phát hành.
18+ là phân loại độ tuổi; G1 là phân loại theo phương thức tương tác. Một game G1, G2, G3 hoặc G4 đều phải được xem xét phân loại độ tuổi phù hợp.
Video giúp nhận diện nhưng không luôn cho thấy server, luồng kết nối, tài khoản, matchmaking hoặc cơ chế đồng bộ. Rà soát kỹ thường cần cả tài liệu kỹ thuật.
Văn bản áp dụng năm 2026: việc phân loại và chuẩn bị hồ sơ cần đối chiếu Nghị định 147/2024/NĐ-CP, các nội dung được sửa đổi tại Nghị định 116/2026/NĐ-CP và thủ tục hành chính đang được cơ quan có thẩm quyền công bố tại thời điểm thực hiện.
G1 là trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời thông qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn phát hành G1 phải có Giấy phép cung cấp dịch vụ G1 và Quyết định phát hành đối với từng trò chơi.
G2 chỉ có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. G1 có thêm yếu tố nhiều người chơi tương tác với nhau đồng thời thông qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp.
Không nên hiểu như vậy. G3 vẫn có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau; điểm khác là không có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp theo định nghĩa pháp luật.
G4 là trò chơi được tải về qua mạng nhưng không có tương tác người chơi–người chơi và không có tương tác người chơi–máy chủ trò chơi của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu một game sau khi tải vẫn phụ thuộc vào server trong quá trình chơi, cần rà soát lại trước khi kết luận là G4.
Không. Mobile, PC, web hoặc console chỉ là nền tảng. Loại G1–G4 được xác định theo phương thức tương tác giữa người chơi và hệ thống máy chủ.
Giấy phép G1 là điều kiện ở cấp doanh nghiệp, nhưng trước khi phát hành từng trò chơi G1, doanh nghiệp vẫn phải được cấp Quyết định phát hành cho trò chơi đó. Vì vậy, game mới không tự động được bao phủ chỉ bởi Giấy phép G1 đã có.
Giấy tờ cấp doanh nghiệp là Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G2, G3, G4 trên mạng. Từng trò chơi cụ thể tiếp tục thực hiện thủ tục để được cấp Giấy xác nhận thông báo phát hành tương ứng.
Không. G1 là phân loại theo mô hình tương tác; 18+, 16+, 12+, 00+ là phân loại theo độ tuổi. Một game G1 phải được đánh giá riêng về nội dung để xác định nhóm tuổi.
Nghị định 147/2024/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng cho người sử dụng tại Việt Nam, kể cả xuyên biên giới, phải thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam để thực hiện cung cấp dịch vụ và tuân thủ quy định về đầu tư nước ngoài.
Thông thường chưa đủ. Tên game và mô tả marketing không cho thấy chính xác kiến trúc tương tác. Để phân loại đáng tin cậy nên có video gameplay, mô tả chế độ chơi, sơ đồ server/kết nối, cơ chế tài khoản và thông tin về bản game dự kiến phát hành tại Việt Nam.
Sau sửa đổi tại Nghị định 116/2026/NĐ-CP, Quyết định phát hành G1 có thời hạn theo thời hạn của văn bản thỏa thuận cho doanh nghiệp được phát hành trò chơi tại Việt Nam nhưng tối đa không quá 05 năm.
Theo quy định sửa đổi năm 2026, thời hạn của Giấy xác nhận gắn với thời hạn của văn bản về quyền phát hành tại Việt Nam nhưng tối đa không quá 05 năm; khi quyền phát hành được gia hạn, doanh nghiệp cần rà soát thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy xác nhận tương ứng.
Bạn có thể gửi video gameplay, danh sách chế độ chơi, sơ đồ máy chủ/kết nối, cơ chế đăng nhập – tài khoản, tài liệu kỹ thuật và thông tin về chủ thể sở hữu/quyền phát hành. Luật Dương Trí sẽ rà soát mô hình tương tác thực tế để xác định nhóm G1, G2, G3 hoặc G4, giấy tờ doanh nghiệp cần có và thủ tục phát hành phù hợp cho từng trò chơi tại Việt Nam.