Quy mô số nhóm/lớp
Số nhóm/lớp càng lớn có thể đưa trường vào ngưỡng hạng cao hơn theo bảng của Thông tư 33.
Thông tư quy định hạng trường mới nhất cần được hiểu đúng trước khi áp dụng. Tính đến tháng 8/2026, quy định cốt lõi để xác định hạng trường mầm non, tiểu học, THCS và THPT công lập vẫn nằm tại Thông tư 33/2005/TT-BGDĐT, hiện còn hiệu lực một phần. Hạng trường trong văn bản này chủ yếu căn cứ vào số nhóm/lớp và khu vực của trường, không phải bảng xếp hạng chất lượng giáo dục.
Văn bản cốt lõi: Thông tư 33/2005/TT-BGDĐT về phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong cơ sở giáo dục công lập.
Cập nhật gần nhất liên quan: Thông tư 26/2025/TT-BGDĐT, hiệu lực 25/12/2025, sửa một số ghi chú áp dụng hạng I đối với trường chuyên biệt/dân tộc.
Tiêu chí phổ thông: chủ yếu dựa vào số lớp và khu vực, không dựa vào điểm thi, mức độ hài lòng phụ huynh hay thành tích quốc tế.
Mục đích trực tiếp: hạng trường là căn cứ xác định hệ số phụ cấp chức vụ của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng theo bảng của Thông tư 33.
Không nhầm: hạng trường khác kiểm định chất lượng/trường chuẩn quốc gia và khác hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên.
Đối với trường mầm non và phổ thông, văn bản cần tra cứu đầu tiên là Thông tư 33/2005/TT-BGDĐT ngày 08/12/2005. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật hiện ghi nhận văn bản này hết hiệu lực một phần, không phải đã hết hiệu lực toàn bộ.
Thông tư 33 có tên đầy đủ là “Hướng dẫn tạm thời thực hiện chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục công lập”. Phần phân hạng trường mầm non và phổ thông quy định trực tiếp ngưỡng số nhóm/lớp để xác định hạng.
Có thể đối chiếu toàn văn tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật.
Cập nhật 2026: Thông tư 26/2025/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 25/12/2025 đã sửa một số ghi chú liên quan Thông tư 33. Tuy nhiên, văn bản này không thay thế bảng ngưỡng số lớp áp dụng chung cho mầm non, tiểu học, THCS và THPT.

Trong phạm vi Thông tư 33, hạng trường là cách phân loại cơ sở giáo dục để áp dụng hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo phù hợp với quy mô và loại hình trường.
Đối với mầm non và phổ thông, hai yếu tố quan trọng nhất là:
Số nhóm/lớp càng lớn có thể đưa trường vào ngưỡng hạng cao hơn theo bảng của Thông tư 33.
Ngưỡng áp dụng cho miền núi, vùng sâu, hải đảo thấp hơn ngưỡng áp dụng cho trung du, đồng bằng và thành phố.
Vì vậy, trường hạng I không mặc nhiên là trường có chất lượng đào tạo tốt hơn trường hạng II hoặc III.
| Khái niệm | Đánh giá cái gì? | Căn cứ điển hình | Kết quả |
|---|---|---|---|
| Hạng trường | Phân loại cơ sở để áp dụng chế độ quản lý/phụ cấp; với mầm non, phổ thông chủ yếu theo số nhóm/lớp và khu vực. | Thông tư 33/2005/TT-BGDĐT và văn bản sửa đổi liên quan. | Hạng I, II, III tùy cấp học. |
| Kiểm định chất lượng/chuẩn quốc gia | Tổ chức, quản lý, đội ngũ, cơ sở vật chất, hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục. | Thông tư 17, 18, 19/2018/TT-BGDĐT và các sửa đổi. | Cấp độ kiểm định/công nhận chuẩn quốc gia. |
| Hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên | Tiêu chuẩn và vị trí nghề nghiệp của từng viên chức giáo viên. | Hệ thống thông tư về chức danh nghề nghiệp; điều kiện xét thăng hạng hiện có Thông tư 13/2024/TT-BGDĐT. | Hạng chức danh của giáo viên. |
Ví dụ: một trường tiểu học hạng I không có nghĩa tất cả giáo viên trong trường là giáo viên hạng I; cũng không có nghĩa trường tự động đạt cấp độ kiểm định cao nhất.
| Khu vực | Hạng I | Hạng II | Hạng III |
|---|---|---|---|
| Trung du, đồng bằng, thành phố | Từ 9 nhóm/lớp trở lên | Dưới 9 nhóm/lớp | Không chia hạng III trong bảng này |
| Miền núi, vùng sâu, hải đảo | Từ 6 nhóm/lớp trở lên | Dưới 6 nhóm/lớp | Không chia hạng III trong bảng này |
| Khu vực | Hạng I | Hạng II | Hạng III |
|---|---|---|---|
| Trung du, đồng bằng, thành phố | Từ 28 lớp trở lên | Từ 18 đến 27 lớp | Dưới 18 lớp |
| Miền núi, vùng sâu, hải đảo | Từ 19 lớp trở lên | Từ 10 đến 18 lớp | Dưới 10 lớp |
Ngưỡng phân hạng THCS trong Thông tư 33 giống bảng tiểu học:
| Khu vực | Hạng I | Hạng II | Hạng III |
|---|---|---|---|
| Trung du, đồng bằng, thành phố | Từ 28 lớp trở lên | Từ 18 đến 27 lớp | Dưới 18 lớp |
| Miền núi, vùng sâu, hải đảo | Từ 19 lớp trở lên | Từ 10 đến 18 lớp | Dưới 10 lớp |
| Khu vực | Hạng I | Hạng II | Hạng III |
|---|---|---|---|
| Trung du, đồng bằng, thành phố | Từ 28 lớp trở lên | Từ 18 đến 27 lớp | Dưới 18 lớp |
| Miền núi, vùng sâu, hải đảo | Từ 19 lớp trở lên | Từ 10 đến 18 lớp | Dưới 10 lớp |

Dưới 18 lớp → hạng III.
Từ 18 đến 27 lớp → hạng II.
Từ 28 lớp trở lên → hạng I.
Từ 6 nhóm/lớp trở lên → hạng I.
Các ví dụ trên chỉ áp dụng theo bảng phân hạng thông thường. Trường chuyên biệt, trường dân tộc hoặc mô hình đặc thù cần kiểm tra thêm phần ghi chú và văn bản sửa đổi đang áp dụng.
Đây là ý nghĩa thực tế quan trọng nhất của hạng trường trong Thông tư 33.
| Cấp học | Chức vụ | Hạng I | Hạng II | Hạng III |
|---|---|---|---|---|
| THPT | Hiệu trưởng | 0,70 | 0,60 | 0,45 |
| THPT | Phó hiệu trưởng | 0,55 | 0,45 | 0,35 |
| THCS | Hiệu trưởng | 0,55 | 0,45 | 0,35 |
| THCS | Phó hiệu trưởng | 0,45 | 0,35 | 0,25 |
| Tiểu học | Hiệu trưởng | 0,50 | 0,40 | 0,30 |
| Tiểu học | Phó hiệu trưởng | 0,40 | 0,30 | 0,25 |
| Mầm non | Hiệu trưởng | 0,50 | 0,35 | — |
| Mầm non | Phó hiệu trưởng | 0,35 | 0,25 | — |
Thông tư 33 cũng quy định phụ cấp của tổ trưởng, tổ phó chuyên môn theo từng cấp học nhưng không phân biệt hạng trường trong cùng cách mà hiệu trưởng/phó hiệu trưởng được phân biệt.
Thông tư 26/2025 có hiệu lực từ ngày 25/12/2025 và sửa một số nội dung trong hệ thống văn bản giáo dục để phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đối với Thông tư 33/2005, thay đổi đáng chú ý nằm ở phần ghi chú áp dụng hạng I đối với một số trường chuyên biệt/dân tộc. Trong đó, quy định mới xác định một số trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú thuộc nhóm được hưởng như trường hạng I theo bảng phụ cấp.
Điều quan trọng: Thông tư 26/2025 không tạo ra một bộ tiêu chí mới dựa trên cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên, thành tích học sinh hay mức độ hài lòng của phụ huynh để xếp hạng I–III.
Phạm vi áp dụng trực tiếp của Thông tư 33 là cán bộ, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo trong cơ sở giáo dục công lập. Văn bản có quy định cơ sở giáo dục ngoài công lập nếu thấy phù hợp thì có thể vận dụng.
Vì vậy không nên mô tả hạng I–III tại Thông tư 33 như một hệ thống xếp hạng bắt buộc của tất cả trường tư thục.
Vì số nhóm/lớp là căn cứ trực tiếp trong bảng phân hạng, thay đổi quy mô có thể làm trường chuyển sang một ngưỡng hạng khác.
Ví dụ, một trường THCS khu vực đồng bằng:
Tuy nhiên, việc ghi nhận/xác định lại hạng phải thực hiện theo thẩm quyền quản lý áp dụng cho loại trường và địa phương tại thời điểm thực hiện. Không nên tự coi việc tăng số lớp là trường đã tự động có quyết định “thăng hạng”.
Giáo viên hạng I, II, III là câu chuyện về chức danh nghề nghiệp của viên chức giáo viên, không phải hạng của cơ sở giáo dục.
Tiêu chuẩn và điều kiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên hiện được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản riêng. Do đó:
Nếu mục tiêu là đánh giá chất lượng thực tế của một trường, cần xem hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia.
Đây mới là hệ thống đánh giá các nội dung như tổ chức quản lý, cán bộ – giáo viên – nhân viên, cơ sở vật chất, hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục. Các cấp học có quy định kiểm định riêng.
Do đó, không nên sử dụng nhãn “hạng I” theo Thông tư 33 như một thông điệp rằng trường có chất lượng giáo dục cao hơn một trường hạng II.
Đối với bảng phân hạng mầm non, tiểu học, THCS và THPT công lập, văn bản cốt lõi vẫn là Thông tư 33/2005/TT-BGDĐT, hiện còn hiệu lực một phần. Thông tư 26/2025 là cập nhật gần nhất có sửa một số nội dung liên quan.
Không thể kết luận như vậy. Hạng trường trong Thông tư 33 đối với mầm non/phổ thông chủ yếu dựa vào số nhóm/lớp và khu vực; chất lượng trường được đánh giá theo cơ chế kiểm định khác.
Từ 18 đến 27 lớp thuộc hạng II theo bảng phân hạng thông thường.
Từ 28 lớp trở lên thuộc hạng I.
Từ 10 đến 18 lớp thuộc hạng II.
Trong bảng phân hạng mầm non tại Thông tư 33, trường được chia hạng I và hạng II, không có ngưỡng hạng III như tiểu học, THCS và THPT.
Trong Thông tư 33, ảnh hưởng trực tiếp nổi bật là hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo của hiệu trưởng và phó hiệu trưởng.
Theo bảng của Thông tư 33, hiệu trưởng THPT hạng I có hệ số phụ cấp chức vụ 0,70.
Không. Hạng trường và hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên là hai hệ thống pháp lý khác nhau.
Không nên dùng hạng trường theo Thông tư 33 làm thước đo chất lượng. Nên xem kết quả kiểm định chất lượng, công nhận chuẩn quốc gia và thông tin công khai của trường.
Thông tư 33 áp dụng trực tiếp đối với lãnh đạo cơ sở giáo dục công lập; cơ sở ngoài công lập có thể vận dụng nếu thấy phù hợp.
Số lớp có thể làm thay đổi ngưỡng phân hạng, nhưng việc xác định lại hạng vẫn cần thực hiện theo thẩm quyền quản lý; trường không tự ban hành quyết định thăng hạng chỉ vì tăng số lớp.
Bạn có thể gửi cấp học, số nhóm/lớp, địa bàn của trường và loại hình công lập/ngoài công lập. Luật Dương Trí sẽ hỗ trợ đối chiếu quy định hiện hành và xác định các vấn đề liên quan đến phụ cấp, quản lý hoặc hồ sơ của cơ sở giáo dục.