Bài viết này sẽ khám phá các nội dung cốt lõi của Luật Viễn thông 2009, một trong những văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất giúp định hình và phát triển ngành viễn thông tại Việt Nam trong suốt hơn một thập kỷ qua. Luật được Quốc hội ban hành trong bối cảnh ngành viễn thông đang chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, vừa để quản lý hiệu quả sự phát triển nhanh chóng của hạ tầng mạng, dịch vụ di động và Internet.
1. Tạo điều kiện và mở rộng các thành phần kinh tế trong kinh doanh viễn thông
Theo kinh nghiệm tư vấn của tôi, đây là một trong những điểm sáng lớn nhất của Luật Viễn thông 2009. Thực tế, hạ tầng viễn thông quốc gia dù đã phát triển nhanh, nhưng vẫn còn khoảng trống ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà chỉ một mình doanh nghiệp nhà nước khó có thể phủ sóng hết. Chất lượng dịch vụ và mức giá vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu xã hội.
Để xây dựng mạng viễn thông toàn quốc phục vụ cho công cuộc đổi mới và công nghiệp hóa, Việt Nam cần huy động nguồn đầu tư lớn. Do đó, việc khuyến khích các nguồn lực xã hội, bao gồm kinh tế tư nhân, tham gia phát triển hạ tầng viễn thông là điều cần thiết. Việc độc quyền đầu tư vào hạ tầng của các doanh nghiệp Nhà nước cũng gây ra nhiều bất cập, trong khi việc mở rộng cho các thành phần kinh tế khác tham gia là một xu hướng tất yếu, nhất là khi Việt Nam đã cam kết môi trường cạnh tranh bình đẳng sau khi gia nhập WTO.
Tôi cho rằng, chính sách này trong Luật Viễn thông 2009 phản ánh đúng tinh thần mà Đảng và Nhà nước đã khẳng định: mọi thành phần kinh tế đều có cơ hội phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Đảng và Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của đất nước, trong đó có viễn thông. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: “xoá bỏ mọi rào cản tâm lý xã hội và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân phát triển không hạn chế quy mô ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khẳng định “Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế” và “thực hiện nghiêm túc, nhất quán một mặt bằng pháp lý và điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế; khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước vào các lĩnh vực mà pháp luật không cấm; tạo điều kiện để các doanh nghiệp của tư nhân tiếp cận các nguồn lực của Nhà nước trên nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng”.
Chỉ thị số 58 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin cũng yêu cầu các cơ quan nhà nước xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm “phát huy nội lực, thúc đẩy cạnh tranh, tạo mọi điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển viễn thông và Internet”.
Vì thế, Luật Viễn thông 2009 quy định rằng các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, khi được thành lập theo pháp luật Việt Nam, đều có quyền tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông và thiết lập hạ tầng mạng viễn thông (dựa theo khoản 23 Điều 3 Luật Viễn thông 2009).

2. Tăng cường quản lý nhà nước trong hoạt động viễn thông nhờ Luật Viễn thông 2009
Là một ngành dịch vụ kỹ thuật quan trọng trong cơ sở hạ tầng quốc gia, viễn thông có vị trí tương tự các ngành giao thông, điện, nước và gắn bó mật thiết với các hoạt động kinh tế – xã hội. Mục tiêu của ngành là đáp ứng nhu cầu thông tin cơ bản cho người dân. Đồng thời, viễn thông còn là công cụ hỗ trợ trực tiếp cho việc chỉ đạo và điều hành của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng.
Ngành này cũng là nền tảng cho việc truyền tải thông tin đại chúng, đặc biệt trong các lĩnh vực như phát thanh, truyền hình và Internet. Cùng với chính sách mở cửa thị trường, cho phép doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh và thiết lập hạ tầng mạng viễn thông, ngành còn thúc đẩy cải cách hành chính, tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng theo cơ chế thị trường, theo đó:
– Luật Viễn thông 2009 giao Thủ tướng Chính phủ, tuỳ theo từng thời kỳ, quyết định việc Nhà nước tiếp tục nắm quyền kiểm soát thông qua việc nắm cổ phần chi phối trong một số doanh nghiệp viễn thông chủ lực (VNPT, VIETTEL v.v…) có tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ mạng viễn thông quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước (dựa theo khoản 1 Điều 17 Luật Viễn thông 2009). Xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện các mạng viễn thông chuyên dùng phục vụ chỉ đạo điều hành của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp trên cơ sở bóc tách rõ chức năng phục vụ chính trị với sản xuất kinh doanh để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong quá trình mở cửa thị trường.
Theo tôi đây là yếu tố để thúc đẩy đa sở hữu trong các doanh nghiệp viễn thông và hình thành một thị trường viễn thông được mở cửa cạnh tranh hoàn toàn, bình đẳng và đúng pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế và cam kết của Việt Nam trong WTO, nhưng vẫn giữ được vai trò kiểm soát, điều tiết của nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạt động viễn thông.
Quan điểm chung của Đảng và Nhà nước ta cũng khẳng định: “thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có ngành chính, có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối” và “Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với các tổng công ty, công ty cổ phần hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực thiết yếu bảo đảm những cân đối lớn của nền kinh tế”.
Tôi hiểu vì sao Luật vẫn đặt ra cơ chế Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong một số doanh nghiệp viễn thông trọng yếu. Với lĩnh vực gắn liền trực tiếp tới an ninh quốc gia và chỉ đạo điều hành của Chính phủ, nếu buông lỏng hoàn toàn cho thị trường thì rủi ro sẽ rất lớn. Tuy nhiên, ở góc độ tích cực, sự kiểm soát này không đi ngược lại xu hướng cạnh tranh, mà ngược lại, nó tạo thế cân bằng: vừa giữ được “van an toàn” cho lợi ích quốc gia, vừa mở ra cánh cửa cho các thành phần khác tham gia thị trường.
– Luật Viễn thông 2009 tăng cường công tác thực thi quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông. Đây cũng là yêu cầu của WTO với mục đích tổ chức công tác thực thi pháp luật một cách chặt chẽ, hiệu quả nhưng công khai, minh bạch, nhanh chóng và công bằng nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng khi mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường viễn thông.
Trên thế giới việc phân định rõ hoạt động của cơ quan thực thi pháp luật (Independent regulator – Cơ quan quản lý viễn thông độc lập) với cơ quan hoạch định chính sách (policy maker) được 147 nước trong tổng số gần 200 nước thành viên của Liên minh Viễn thông Quốc tế – ITU áp dụng. Để đảm bảo yêu cầu cam kết của Việt nam theo tài liệu tham chiếu trong hiệp định viễn thông cơ bản của WTO, Luật Viễn thông 2009 đã tăng cường công tác thực thi pháp luật trong lĩnh vực viễn thông trên cơ sở thành lập Cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông để quản lý thị trường và nghiệp vụ viễn thông (Điều 10).

3. Đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng dịch vụ viễn thông theo Luật Viễn thông 2009
Nhằm tăng cường bảo đảm quyền và lợi ích của người sử dụng dịch vụ viễn thông, Luật Viễn thông 2009 đưa ra một số các quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ viễn thông như nghĩa vụ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích; quy định chi tiết về Hợp đồng mẫu (giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng); trách nhiệm của Doanh nghiệp viễn thông trước khi đưa các thiết bị mạng, thiết bị đo lường tính giá cước vào hoạt động phải thực hiện việc kiểm định; trách nhiệm của doanh nghiệp khi ngừng cung cấp dịch vụ; hoàn cước, bồi thường thiệt hại; dịch vụ khẩn cấp, dịch vụ tra cứu số thuê bao…
Theo tôi, một đạo luật chỉ thực sự có giá trị khi nó bảo vệ được người sử dụng – những người trực tiếp nuôi sống thị trường. Trong quá trình hành nghề, tôi từng gặp nhiều trường hợp khách hàng phản ánh bị ngừng cung cấp dịch vụ mà không báo trước. Với các quy định chặt chẽ hơn, người dùng sẽ an tâm hơn, còn doanh nghiệp buộc phải nâng cao trách nhiệm của mình.
4. Đảm bảo môi trường kinh doanh viễn thông cạnh tranh công bằng, minh bạch, công khai
Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002 chủ yếu điều chỉnh các quy định về kỹ thuật, nghiệp vụ viễn thông trong khi các quy định về thị trường, về hoạt động kinh doanh viễn thông chưa được thể hiện rõ nét trong khi một số quốc gia có một Luật riêng về Kinh doanh viễn thông (Telecommunication Business Act). Để khắc phục hạn chế này của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002 cũng như để đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế và thông lệ quốc tế Luật Viễn thông 2009 đã quy định một chương (Chương II) về Kinh doanh viễn thông.
Các quy định tại chương này về doanh nghiệp viễn thông; đầu tư trong viễn thông; cạnh tranh trong kinh doanh viễn thông; sở hữu trong doanh nghiệp viễn thông; v.v… sẽ tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh viễn thông trong môi trường bình đẳng, công bằng, minh bạch theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Riêng đối với việc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực viễn thông, dự án Luật quy định áp dụng theo lộ trình Việt Nam đã cam kết khi gia nhập WTO.
5. Áp dụng cơ chế thị trường trong quản lý kho số viễn thông, tài nguyên Internet nhờ Luật Viễn thông 2009
Tài nguyên viễn thông như tần số, kho số, tên miền và địa chỉ Internet là các nguồn tài nguyên có giá trị, quý hiếm, và hữu hạn. Chúng mang tính thương mại cao, nhưng tổng lượng tài nguyên này lại không đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng. Ở nhiều quốc gia, việc phân bổ tài nguyên viễn thông được thực hiện qua các hình thức như cấp trực tiếp, đấu giá hoặc thi tuyển. Đặc biệt, với các tài nguyên có tiềm năng sinh lợi lớn như băng tần thương mại (chẳng hạn băng tần 3G), hình thức thi tuyển hoặc đấu giá thường được áp dụng, giúp nhà nước thu về hàng trăm triệu đến hàng chục tỷ USD, như tại các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ.
Để khắc phục các tồn tại về quản lý tài nguyên viễn thông thì việc áp dụng các cơ chế thị trường sau đây đối với quản lý tài nguyên viễn thông là hết sức cần thiết:
– Phân bổ tài nguyên viễn thông, đặc biệt là đối với các băng tần số mang tính thương mại cao sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức thi tuyển, đấu giá.
– Cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng tài nguyên viễn thông có được thông qua đấu giá.
– Thực hiện đền bù khi Nhà nước giải phóng tài nguyên viễn thông theo quy hoạch.
Vì thế, để tăng cường hiệu quả sử dụng kho số viễn thông, tài nguyên Internet, ngoài hình thức phân bổ trực tiếp theo nguyên tắc “đến trước, cấp trước”, Luật viễn thông số 41/2009/QH12 đã quy định thêm các hình thức phân bổ thi tuyển, đấu giá đối với các tài nguyên viễn thông có giá trị thương mại cao, nhu cầu sử dụng vượt quá khả năng phân bổ (dựa theo khoản 2 Điều 48 Luật Viễn thông 2009), đồng thời cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng kho số viễn thông, tài nguyên Internet có được thông qua đấu giá (dựa theo Điều 49 Luật Viễn thông 2009); thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi kho số viễn thông, tài nguyên Internet theo quy hoạch hoặc phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh (dựa theo khoản 4 Điều 50 Luật Viễn thông 2009).
Tôi từng so sánh với một số quốc gia phát triển, họ đã thu về hàng tỷ USD chỉ từ việc đấu giá băng tần. Việt Nam khi áp dụng cơ chế này không chỉ tránh lãng phí tài nguyên, mà còn tạo nguồn thu cho ngân sách. Quan trọng hơn, khi quyền sử dụng được phân bổ minh bạch, các doanh nghiệp sẽ khai thác hiệu quả hơn, thay vì tình trạng ‘xin – cho’.
6. Cung cấp dịch vụ viễn thông rộng rãi tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa theo Luật Viễn thông 2009
Song song với việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh viễn thông theo cơ chế thị trường, Nhà nước có chính sách, cơ chế nhằm bảo đảm việc cung cấp dịch vụ viễn thông thiết yếu đến mọi người dân, đặc biệt là tại vùng sâu, vùng xa vì việc kinh doanh tại các địa bàn này không bảo đảm đủ bù đắp chi phí và phát sinh lợi nhuận theo cơ chế thị trường. Kế thừa các quy định của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002 về cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và để tiếp tục thúc đẩy việc phổ cập các dịch vụ viễn thông đến mọi người dân trên cả nước nhằm rút ngắn khoảng cách về sử dụng dịch vụ viễn thông giữa các vùng, miền và thúc đẩy phát triển KT-XH cũng như bảo đảm an ninh, quốc phòng, Luật Viễn thông 2009 đã quy định một chương về Viễn thông công ích.
Để hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức trong việc thực hiện các quy định liên quan đến tài nguyên viễn thông, một trong những giấy phép quan trọng không thể thiếu là Giấy phép bưu chính. . Theo kinh nghiệm của tôi, việc xin cấp Giấy phép bưu chính là bước quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông, đặc biệt là khi tham gia vào việc phân bổ tài nguyên viễn thông, kho số, và tài nguyên Internet.
Nhiều khách hàng của tôi từng gặp khó khăn khi chuẩn bị hồ sơ vì chưa nắm rõ yêu cầu chi tiết, dẫn đến chậm tiến độ kinh doanh. Chính vì vậy, tại Luật Dương Trí, chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên sâu về xin giấy phép bưu chính, sẽ giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định pháp lý về việc cung cấp dịch vụ viễn thông, bao gồm các yêu cầu về giấy phép và thủ tục pháp lý liên quan đến việc khai thác tài nguyên bưu chính, góp phần đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra một cách hợp pháp và hiệu quả.
Với những quy định và cơ chế được đưa ra trong Luật Viễn thông 2009, Việt Nam đã tạo ra một môi trường kinh doanh viễn thông minh bạch, công bằng và mở rộng cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia. Luật Viễn thông 2009 là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ, thúc đẩy cạnh tranh và phát triển bền vững trong lĩnh vực viễn thông, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa đất nước.
Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hoặc hỗ trợ trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến Luật Viễn thông 2009, công ty Luật Dương Trí luôn sẵn sàng đồng hành cùng bạn, cung cấp các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp và hiệu quả.