Địa điểm và phòng học
Có địa điểm hợp pháp, phòng học, phòng chức năng và trang thiết bị đáp ứng chương trình đào tạo thực tế.
Mở trung tâm tiếng Nhật không có một thủ tục cấp phép riêng chỉ vì ngôn ngữ đào tạo là tiếng Nhật. Về thủ tục thành lập, trung tâm tiếng Nhật đi theo cùng khung pháp lý với trung tâm tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Hàn và các trung tâm ngoại ngữ khác. Điểm cần chuẩn bị riêng nằm ở chương trình tiếng Nhật, chuẩn đầu ra JLPT, cơ cấu giáo viên người Việt – người Nhật – người nước ngoài và phạm vi dịch vụ gắn với du học hoặc việc làm tại Nhật Bản.
Không khác về thủ tục thành lập: hồ sơ vẫn thực hiện theo thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên tại Sở Giáo dục và Đào tạo.
Khác ở chương trình: trung tâm thường thiết kế lộ trình giao tiếp, tiếng Nhật doanh nghiệp hoặc JLPT N5–N1; JLPT là mục tiêu đào tạo phổ biến nhưng không phải điều kiện cấp phép bắt buộc.
Khác ở nhân sự: nếu sử dụng giáo viên Nhật Bản, ngoài tiêu chuẩn giáo viên trung tâm còn phải rà soát quy định về người lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Khác ở phạm vi dịch vụ: tư vấn du học Nhật hoặc tuyển/đưa người lao động sang Nhật là các hoạt động pháp lý riêng, không được tự động thực hiện chỉ vì đã có trung tâm tiếng Nhật.
Nếu có nhà đầu tư Nhật Bản: có thể phát sinh khung đầu tư nước ngoài trong giáo dục; đây là khác biệt do cơ cấu vốn, không phải do ngôn ngữ tiếng Nhật.
Không. Pháp luật Việt Nam hiện không chia thủ tục thành “giấy phép trung tâm tiếng Nhật”, “giấy phép trung tâm tiếng Anh” hay “giấy phép trung tâm tiếng Hàn”. Trung tâm ngoại ngữ thuộc nhóm trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên và thực hiện cùng một thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập.
Điều này có nghĩa phần điều kiện chung về địa điểm, chương trình, nhân sự, quy chế và hồ sơ hành chính chỉ nên trình bày vừa đủ trong bài này. Phần cần đi sâu là những vấn đề phát sinh riêng khi trung tâm đào tạo tiếng Nhật.
| Nội dung | Trung tâm tiếng Nhật | Trung tâm ngoại ngữ khác | Ý nghĩa pháp lý |
|---|---|---|---|
| Thủ tục thành lập | Thực hiện thủ tục trung tâm ngoại ngữ tại Sở GD&ĐT. | Tương tự. | Không có khác biệt do ngôn ngữ. |
| Chương trình | Thường có giao tiếp, doanh nghiệp, JLPT N5–N1, tiếng Nhật du học/nghề nghiệp. | Thiết kế theo ngôn ngữ và mục tiêu tương ứng. | Trung tâm tự chịu trách nhiệm về chương trình/tài liệu theo quy định. |
| Giáo viên bản ngữ | Người Nhật dạy tiếng Nhật được xem xét theo nhóm người bản ngữ của ngoại ngữ đó. | Áp dụng tương tự với người bản ngữ của ngôn ngữ tương ứng. | Không đặt riêng điều kiện “N5/N3” cho người Nhật nếu pháp luật không quy định. |
| Giáo viên nước ngoài | Thường phát sinh hồ sơ lao động cho giáo viên Nhật. | Tương tự nếu sử dụng giáo viên nước ngoài. | Phải xử lý thêm pháp luật về lao động nước ngoài. |
| Dịch vụ đi kèm | Thường gắn với du học Nhật hoặc đào tạo trước khi đi làm tại Nhật. | Tùy thị trường. | Hai hoạt động này có thể phát sinh giấy phép/điều kiện riêng. |
| Nhà đầu tư nước ngoài | Có thể có cá nhân/pháp nhân Nhật đầu tư. | Cũng có thể phát sinh với nhà đầu tư nước ngoài khác. | Route thay đổi do yếu tố vốn nước ngoài, không do tiếng Nhật. |
Điểm cốt lõi: để bài về tiếng Nhật có giá trị riêng, không nên lặp lại toàn bộ điều kiện chung của trung tâm ngoại ngữ. Cần tập trung vào JLPT, giáo viên Nhật Bản và ranh giới giữa đào tạo ngoại ngữ với du học – việc làm tại Nhật.

Trung tâm ngoại ngữ, bao gồm trung tâm tiếng Nhật, thuộc nhóm trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.
Đối với trung tâm tư thục do tổ chức hoặc cá nhân đề nghị thành lập, thủ tục hiện hành được thực hiện tại Sở Giáo dục và Đào tạo. Giám đốc Sở là người quyết định cho phép thành lập nếu hồ sơ và điều kiện thực tế đạt yêu cầu.
Nếu bạn đang cần nội dung chung cho mọi ngôn ngữ, xem dịch vụ thành lập trung tâm ngoại ngữ. Phần dưới đây tập trung vào các vấn đề riêng của trung tâm tiếng Nhật.
Điều kiện pháp lý không được đặt riêng cho tiếng Nhật. Trung tâm cần chứng minh các nhóm điều kiện phù hợp với chương trình dự kiến:
Có địa điểm hợp pháp, phòng học, phòng chức năng và trang thiết bị đáp ứng chương trình đào tạo thực tế.
Có chương trình tiếng Nhật, tài liệu giảng dạy và cơ chế kiểm tra – đánh giá phù hợp mục tiêu khóa học.
Có cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đáp ứng số lượng và tiêu chuẩn để triển khai quy mô đã đăng ký.
Có quy chế làm rõ tổ chức, hoạt động giáo dục, quyền – nghĩa vụ của giáo viên, nhân viên và học viên.
Không có yêu cầu chung rằng mọi trung tâm tiếng Nhật phải có “phòng máy tính”, “phòng thực hành” riêng nếu chương trình không cần. Cơ sở vật chất cần được xây dựng theo nội dung và quy mô đào tạo thực tế.
Giám đốc trung tâm ngoại ngữ phải có nhân thân tốt, năng lực quản lý và kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Về trình độ, người dự kiến làm Giám đốc cần:
Không nên tự suy luận “JLPT N3 = bậc 3” chỉ vì cùng có số 3. Khi sử dụng chứng chỉ nước ngoài để chứng minh điều kiện tương đương, cần kiểm tra căn cứ chấp nhận của hồ sơ thực tế.
| Nhóm giáo viên | Điều kiện chuyên môn theo quy định trung tâm ngoại ngữ |
|---|---|
| Người Việt Nam dạy tiếng Nhật | Cao đẳng sư phạm ngoại ngữ trở lên; hoặc cao đẳng ngoại ngữ trở lên và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. |
| Người Nhật là người bản ngữ dạy tiếng Nhật | Có bằng cao đẳng trở lên và chứng chỉ đào tạo dạy ngoại ngữ phù hợp. |
| Người nước ngoài không phải người bản ngữ tiếng Nhật | Một trong các hướng: cao đẳng sư phạm ngoại ngữ; hoặc cao đẳng ngoại ngữ + chứng chỉ đào tạo dạy ngoại ngữ; hoặc cao đẳng trở lên + năng lực ngoại ngữ từ bậc 5/tương đương + chứng chỉ đào tạo dạy ngoại ngữ phù hợp. |
Điểm cần sửa so với nhiều hướng dẫn cũ là: pháp luật không đặt điều kiện “giáo viên nước ngoài phải có JLPT N5 trở lên”.
Không có quy định chung bắt buộc mọi giáo viên tiếng Nhật phải sở hữu một cấp JLPT cụ thể để trung tâm được thành lập.
JLPT có thể hữu ích để chứng minh năng lực hoặc phục vụ chính sách tuyển dụng nội bộ, nhưng phải phân biệt với tiêu chuẩn pháp lý tại Thông tư 21/2018.
Đặc biệt, người Nhật là người bản ngữ dạy tiếng Nhật được áp dụng tiêu chuẩn của giáo viên bản ngữ; yêu cầu pháp lý không phải “có JLPT N5”.
Có thể xây dựng chương trình đào tạo hướng tới JLPT, miễn chương trình và tài liệu được tổ chức đúng quy định và trung tâm chịu trách nhiệm về nội dung đào tạo.
Một đề án trung tâm tiếng Nhật nên mô tả cụ thể:
Trung tâm dạy luyện JLPT không đồng nghĩa trung tâm được quyền cấp chứng chỉ JLPT. Trung tâm có thể cấp giấy xác nhận hoàn thành chương trình của mình theo phạm vi pháp luật cho phép; việc tổ chức thi/cấp chứng chỉ ngoại ngữ phải đáp ứng cơ chế riêng.
Hồ sơ hiện hành của thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên gồm các tài liệu trọng tâm:
Trong đề án, phần tạo khác biệt cho trung tâm Nhật ngữ nên là cấu trúc chương trình tiếng Nhật, đội ngũ giáo viên tiếng Nhật và phạm vi dịch vụ thực sự triển khai, không phải viết lại một đề án ngoại ngữ chung chung.

Chốt chủ thể đầu tư, địa điểm, quy mô, chương trình tiếng Nhật, Giám đốc, giáo viên và các dịch vụ dự kiến triển khai.
Gửi hồ sơ đến Sở Giáo dục và Đào tạo theo hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc bưu chính theo thủ tục được địa phương công bố.
Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, cơ quan xử lý thông báo nội dung cần sửa. Khi hồ sơ hợp lệ, Sở thẩm định hồ sơ và điều kiện thực tế của trung tâm.
Nếu đáp ứng điều kiện, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập theo thẩm quyền.
Theo thủ tục hiện được công bố ở cấp trung ương, giai đoạn thẩm định hồ sơ và thực tế là 10 ngày kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ, sau đó có 05 ngày làm việc để ra quyết định nếu đủ điều kiện. Một số địa phương có thể công bố thời gian rút ngắn theo cơ chế giải quyết thủ tục tại địa phương.
Chi tiết thủ tục có thể đối chiếu tại Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Có một lớp tuân thủ bổ sung: pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Trước khi bố trí giáo viên Nhật đứng lớp dài hạn, trung tâm nên kiểm tra:
Khung hiện hành về người lao động nước ngoài được quy định tại Nghị định 219/2025/NĐ-CP.
Không nên coi quyết định cho phép thành lập trung tâm ngoại ngữ là giấy phép tư vấn du học.
Nếu đơn vị cung cấp các dịch vụ như:
thì phải rà soát thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học theo Nghị định 125/2024/NĐ-CP.
Đây là một trong những điểm khác biệt thực tế lớn nhất của trung tâm Nhật ngữ. Nhiều mô hình muốn cung cấp “tiếng Nhật + du học Nhật”, nhưng hai phạm vi pháp lý không tự động đi cùng nhau.
Đào tạo tiếng Nhật và đưa người lao động đi làm việc ở Nhật là hai hoạt động khác nhau.
Trung tâm có thể đào tạo ngoại ngữ cho người học có mục tiêu nghề nghiệp, nhưng nếu đơn vị trực tiếp:
thì phải đáp ứng khung pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Giấy phép trung tâm tiếng Nhật không thay thế điều kiện của lĩnh vực này.
Có thể khác, nhưng khác do yếu tố đầu tư nước ngoài chứ không phải do tiếng Nhật.
Nếu trung tâm do cá nhân hoặc pháp nhân Nhật Bản đầu tư, hoặc có vốn góp nước ngoài, cần rà soát thêm quy định về hợp tác và đầu tư nước ngoài trong giáo dục theo Nghị định 86/2018/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi Nghị định 124/2024/NĐ-CP.
Nếu thuộc tình huống này, xem thêm thành lập trung tâm ngoại ngữ có vốn nước ngoài.
Một lớp dạy tiếng Nhật nhỏ và một trung tâm ngoại ngữ không nên được coi là một chỉ vì đều có thu học phí.
Nếu mô hình chưa được tổ chức dưới tư cách trung tâm, cần phân tích riêng hoạt động đào tạo, đăng ký kinh doanh và quy định dạy thêm nếu chương trình thuộc phạm vi tương ứng. Nếu cơ sở muốn sử dụng tư cách “trung tâm tiếng Nhật”, có cơ cấu quản lý, nhiều giáo viên, chương trình và tuyển sinh dưới danh nghĩa trung tâm, nên đi đúng thủ tục thành lập trung tâm.

Luật Dương Trí tập trung rà soát mô hình thực tế trước khi lập hồ sơ để tránh trường hợp trung tâm được thành lập nhưng các dịch vụ dự kiến khai thác sau đó lại nằm ngoài phạm vi pháp lý đã chuẩn bị.
Xác định đào tạo JLPT, giao tiếp, doanh nghiệp, du học hoặc tiếng Nhật nghề nghiệp.
Kiểm tra hồ sơ giáo viên Việt Nam, giáo viên Nhật và người nước ngoài theo đúng từng nhóm.
Chuẩn hóa chương trình, cơ sở vật chất, nhân sự, nguồn lực và quy chế theo hồ sơ năm 2026.
Phân tách giấy phép trung tâm với tư vấn du học Nhật, việc làm Nhật và đầu tư nước ngoài.
Nếu chỉ cần thủ tục chung cho mọi ngôn ngữ, xem dịch vụ thành lập trung tâm ngoại ngữ. Nếu đang ở giai đoạn chọn mặt bằng, tham khảo điều kiện mở trung tâm ngoại ngữ.
Không. Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ về cơ bản áp dụng chung, không chia giấy phép theo từng ngôn ngữ.
Vì trung tâm Nhật ngữ thường phát sinh các vấn đề riêng về JLPT, giáo viên người Nhật, lao động nước ngoài, du học Nhật, đào tạo người chuẩn bị sang Nhật làm việc và nhà đầu tư Nhật Bản.
Không. Người Nhật là người bản ngữ dạy tiếng Nhật được áp dụng tiêu chuẩn giáo viên bản ngữ theo Thông tư 21/2018; quy định không đặt yêu cầu JLPT N5.
Cần bằng cao đẳng sư phạm ngoại ngữ trở lên hoặc bằng cao đẳng ngoại ngữ trở lên kèm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm.
Không. Trung tâm có thể lựa chọn hoặc xây dựng chương trình phù hợp nhu cầu người học; JLPT có thể dùng làm mục tiêu đầu ra nếu phù hợp.
Không nên đồng nhất hoạt động đào tạo với quyền tổ chức thi hoặc cấp chứng chỉ JLPT. Việc tổ chức thi/cấp chứng chỉ phải có cơ sở pháp lý riêng.
Có thể xây mô hình nhiều dịch vụ nhưng dịch vụ tư vấn du học có thủ tục và điều kiện riêng. Quyết định cho phép thành lập trung tâm ngoại ngữ không tự động thay thế Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học.
Đào tạo tiếng Nhật không đồng nghĩa được hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nếu thực hiện tuyển chọn, cung ứng hoặc đưa người lao động sang Nhật phải đáp ứng pháp luật chuyên ngành riêng.
Cần rà soát theo Nghị định 219/2025/NĐ-CP để xác định trường hợp phải cấp giấy phép lao động hoặc thuộc diện không phải cấp. Không nên chỉ kiểm tra bằng cấp giáo viên rồi cho đứng lớp.
Nếu có vốn đầu tư nước ngoài thì ngoài pháp luật về trung tâm ngoại ngữ còn phải rà soát khung hợp tác, đầu tư nước ngoài trong giáo dục. Sự khác biệt đến từ yếu tố vốn, không phải từ ngôn ngữ tiếng Nhật.
Thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập trung tâm ngoại ngữ tư thục được thực hiện tại Sở Giáo dục và Đào tạo theo thẩm quyền hiện hành.
Theo thủ tục trung ương hiện công bố, hồ sơ hợp lệ có giai đoạn thẩm định 10 ngày và 05 ngày làm việc để ra quyết định sau báo cáo thẩm định. Địa phương có thể công bố thời gian rút ngắn.

Bạn có thể gửi địa điểm dự kiến, chương trình đào tạo, hồ sơ Giám đốc, danh sách giáo viên và cho biết trung tâm có dự định triển khai thêm du học Nhật hoặc đào tạo người đi làm tại Nhật hay không. Luật Dương Trí sẽ hỗ trợ xác định đúng phạm vi thủ tục trước khi bạn đầu tư sâu vào mặt bằng và nhân sự.