13/11/2024 | Chia sẻ

6 Bộ luật của Việt Nam đang có hiệu lực hiện nay

Ngày đăng: Tác giả: Cập nhật:

Bài viết này sẽ giới thiệu về 6 Bộ luật của Việt Nam hiện đang có hiệu lực, qua đó giải đáp các thắc mắc về vai trò pháp lý của các bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền sửa đổi chúng, cũng như một số quy định liên quan. 

1. 6 Bộ luật của Việt Nam bao gồm những bộ luật nào?

Hiện nay, có tất cả 6 Bộ luật của Việt Nam, bao gồm các bộ luật sau:

  1. Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017);
  2. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Luật Sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021);
  3. Bộ luật Dân sự 2015;
  4. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (được sửa đổi bổ sung bởi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022; Luật Doanh nghiệp 2020; Bộ luật Lao động 2019);
  5. Bộ luật Lao động 2019;
  6. Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 (được sửa đổi bởi Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018);

Như vậy, hiện nay Việt Nam có 06 bộ luật đang có hiệu lực thi hành, bao gồm Bộ luật Hình sự 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Bộ luật Dân sự 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Bộ luật Lao động 2019 và Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015. Vệc hiểu rõ về 6 Bộ luật của Việt Nam giúp các cá nhân và doanh nghiệp tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ, bên cạnh đó góp phần bảo vệ quyền lợi của chính mình trong các tình huống pháp lý.

6 Bộ luật của Việt Nam bao gồm những bộ luật nào?
6 Bộ luật của Việt Nam bao gồm những bộ luật nào?

2. 6 Bộ luật của Việt Nam có phải là văn bản quy phạm pháp luật?

Theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a, điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2020), hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam được quy định bao gồm các nội dung như sau:

– Hiến pháp.

– Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.

– Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

– Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

– Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

– Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

– Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.

– Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

– Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).

– Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

– Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

– Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).

– Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

– Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).

– Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Do đó, 6 Bộ luật của Việt Nam là văn bản quy phạm pháp luật.

3. Cơ quan nào có thể sửa đổi, bổ sung 6 Bộ luật của Việt Nam hiện có hiệu lực?

Tại khoản 1 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2020 quy định như sau:

Điều 12. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

  1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

          Văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, niêm yết theo quy định.

Theo trên, Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó.

6 Bộ luật của Việt Nam là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành. Vì thế, chỉ có các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành mới có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế các bộ luật đang có hiệu lực. Điều này cho thấy sự nghiêm ngặt trong quy trình sửa đổi và bổ sung các bộ luật nhằm đảm bảo tính ổn định và đồng bộ của hệ thống pháp luật. Sự chặt chẽ này cũng giúp tránh các thay đổi không cần thiết, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và doanh nghiệp.

Cơ quan nào có thể sửa đổi, bổ sung 6 Bộ luật của Việt Nam hiện có hiệu lực?
Cơ quan nào có thể sửa đổi, bổ sung 6 Bộ luật của Việt Nam hiện có hiệu lực?

4. Quy định về số, ký hiệu của 6 Bộ luật của Việt Nam

 Quy định về số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại khoản 4 Điều 58 Nghị định 34/2016/NĐ-CP. Trong đó, số, ký hiệu của bộ luật được trình bày như dưới đây: 

– Số, ký hiệu của các văn bản được sắp xếp theo thứ tự như sau: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản-tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản hoặc chức danh nhà nước của người có thẩm quyền ban hành văn bản, thứ tự sắp xếp này được viết liền nhau, không cách chữ.

– Số, ký hiệu của văn bản được đặt canh giữa dưới tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản.

– Từ “Số” được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 13, kiểu chữ đứng; sau từ “Số” có dấu hai chấm (:); với những số nhỏ hơn 10 phải ghi thêm số 0 phía trước.

– Ký hiệu của văn bản được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ 13, kiểu chữ đứng.

– Giữa số, năm ban hành và ký hiệu văn bản có dấu gạch chéo (/); giữa các nhóm chữ viết tắt trong ký hiệu văn bản có dấu gạch nối (-), không cách chữ.

Quy định về số, ký hiệu của 6 Bộ luật của Việt Nam
Quy định về số, ký hiệu của 6 Bộ luật của Việt Nam

5. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Nhằm đảm bảo chất lượng và tính hiệu quả của hệ thống pháp luật Việt Nam, cần tuân thủ những nguyên tắc quan trọng trong Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, quy định về nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cụ thể như sau:

– Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

– Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

– Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

– Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

– Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

– Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Trên đây là những thông tin cơ bản về 6 Bộ luật của Việt Nam hiện đang được áp dụng. Việc hiểu rõ các Bộ luật này là cơ sở quan trọng để thực hiện đúng trách nhiệm pháp lý trong nhiều lĩnh vực của đời sống và công việc.

Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hoặc hỗ trợ trong việc tuân thủ các quy định mới, công ty Luật Dương Trí luôn sẵn sàng đồng hành cùng bạn, cung cấp các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp và hiệu quả.

Zalo Luật Sư Hotline WhatsApp