14/11/2024 | Chia sẻ

Một số góp ý Luật Nhà giáo trên cơ sở Dự thảo lần thứ 5

Ngày đăng: Tác giả: Cập nhật:

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững quốc gia, và đội ngũ nhà giáo là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Vì vậy, việc xây dựng Luật Nhà giáo là yêu cầu thiết yếu, nhằm thể chế hóa các quan điểm của Đảng và phù hợp với thực tiễn xây dựng pháp luật của Việt Nam hiện nay.

Dựa trên Dự thảo lần thứ 5 của Luật Nhà giáo – bản chỉnh lý tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2024, với 9 chương và 45 điều (giảm 26 điều so với dự thảo trình Quốc hội ngày 6 tháng 9 năm 2024), bài viết này đưa ra một số ý kiến nhằm góp ý Luật Nhà giáo.

1. Khó khăn trong việc áp dụng Nguyên tắc đánh giá nhà giáo

Nguyên tắc tại điểm đ khoản 1 Điều 39 quy định 5 nhóm nguyên tắc đánh giá nhà giáo trong dự thảo Luật Nhà giáo – “Nghiêm cấm sử dụng việc đánh giá nhà giáo để thực hiện các hành vi trù dập, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhà giáo” – theo tôi là một bước tiến đáng hoan nghênh. Đây là một quy phạm pháp luật khẳng định xã hội cần dành sự tôn trọng đúng mực cho những người làm nghề “trồng người”.

Tuy nhiên, tôi cũng phải thẳng thắn rằng quy định này đang dừng ở mức khái quát, thiếu tính khả thi. Đặc biệt khi việc ngăn chặn hành vi bị cấm “Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể nhà giáo” như quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 dự thảo Luật Nhà giáo và Điều 5 của dự thảo giải thích từ ngữ cũng không có định nghĩa để hiểu chung thống nhất như thế nào là “sử dụng việc đánh giá nhà giáo để thực hiện các hành vi trù dập, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhà giáo”.

Chính vì vậy, có thể cần phải góp ý luật nhà giáo để làm rõ quy định này và đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn. Mặt khác, tại Điều 39 cũng không giao cho Chính phủ quy định chi tiết điều này, tức là chỉ có 2 khoản nguyên tắc và căn cứ đánh giá, không có khoản 3: Chính phủ quy định chi tiết về nguyên tắc đánh giá và căn cứ đánh giá nhà giáo. Vì vậy, việc góp ý luật nhà giáo là điều cần thiết để làm rõ các quy định về trách nhiệm và quyền lợi của nhà giáo, giúp tạo ra một hệ thống pháp lý công bằng và hiệu quả hơn.

Hơn nữa, một trong những vấn đề cần được góp ý luật nhà giáo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện là việc đánh giá năng lực của cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhất là các tiêu chí xác định năng lực và phẩm chất của họ trong công tác lãnh đạo. Khi đưa ra những góp ý luật nhà giáo, các chuyên gia và nhà giáo sẽ góp phần vào việc hoàn thiện các quy định pháp lý, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong việc đánh giá năng lực của từng cá nhân trong ngành giáo dục.

2. Một số vấn đề cần điều chỉnh trong Chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo

Khoản 7 Điều 7 của dự thảo quy định về chính sách của Nhà nước đối với việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trong đó nêu rõ: “có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để nhà giáo, nhà khoa học nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người có đủ điều kiện làm nhà giáo, thỉnh giảng hoặc làm báo cáo viên”.

Từ góc độ khoa học pháp lý, tôi nhận thấy quy định này dường như chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và có thể gây khó khăn trong việc triển khai chính sách của Nhà nước về đội ngũ nhà giáo. Tức là trong quy định này có sử dụng cụm từ “và người có đủ điều kiện làm nhà giáo, thỉnh giảng hoặc làm báo cáo viên” rất mâu thuẫn trong một quy phạm pháp luật cho phép như khoản 7 Điều 7.

Chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo là cho phép, khuyến khích, tạo điều kiện nhóm nhà giáo nước ngoài, nhà khoa học nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm nhà giáo, thỉnh giảng hoặc làm báo cáo viên tại các cơ sở giáo dục tại Việt Nam. Do đó, việc sử dụng liên từ “và” trong quy định này khiến nội dung quy định trở nên chồng chéo và thiếu rõ ràng.

 Bởi vì “và người có đủ điều kiện” thực chất ám chỉ đối tượng nào trong bối cảnh người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài? Theo Luật sư Phạm Đình Tú (Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội), chính sách này là chính sách đối với nhà giáo chứ không thể áp dụng cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mới chỉ đủ điều kiện và chưa được công nhận là nhà giáo làm nhà giáo, thỉnh giảng hoặc làm báo cáo viên tại Việt Nam. Đây là một trong những vấn đề trong các góp ý Luật Nhà giáo cần được làm rõ thêm.

Chính vì thế, các góp ý luật nhà giáo nên tập trung vào việc xác định rõ ràng đối tượng áp dụng để tránh sự mơ hồ trong quy định pháp lý. Các cơ quan chức năng cần tiếp thu các góp ý luật nhà giáo để điều chỉnh quy định sao cho phù hợp với thực tiễn và đảm bảo tính khả thi trong việc triển khai. Một trong những góp ý luật nhà giáo quan trọng là làm sao để các quy định có thể dễ dàng áp dụng cho tất cả đối tượng nhà giáo, bao gồm cả người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, mà không gây khó khăn trong quá trình thực hiện.

Góp ý Luật Nhà giáo về chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo
Góp ý Luật Nhà giáo về chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo

3. Góp ý dự thảo Luật nhà giáo điều chỉnh quy định quyền của nhà giáo để phù hợp với quy định pháp lý hiện hành

Điểm d, khoản 1, Điều 11 của dự thảo quy định quyền của nhà giáo, cụ thể như sau: “Được nghiên cứu khoa học và chuyển giao sản phẩm nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật về nghiên cứu khoa học và sở hữu trí tuệ; được tham gia hoạt động ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ”.

Đây là một quy phạm cho phép, được hiểu là nhà giáo được trao quyền nghiên cứu khoa học và chuyển giao sản phẩm nghiên cứu khoa học; đồng thời, được tham gia hoạt động ở các cơ sở sản xuất – kinh doanh phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.

Vậy người thành lập và quản lý doanh nghiệp có phải là người không trực tiếp tham gia hoạt động ở các cơ sở sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp hay không?

 Hiện tại, chưa có khái niệm nào định nghĩa rõ ràng để hiểu việc tham gia hoạt động ở các cơ sở sản xuất – kinh doanh tại doanh nghiệp không phải là việc thành lập và quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, cần phải quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 về nhà giáo được tham gia hoạt động ở các cơ sở sản xuất – kinh doanh phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ cho phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Các góp ý Luật Nhà giáo liên quan đến việc này sẽ giúp làm rõ quy định trong dự thảo, tránh sự mâu thuẫn giữa các quy phạm pháp luật.

4. Vấn đề về hợp đồng vô hiệu liên quan đến quy định chấm dứt hợp đồng dạy học 

Tại khoản 4 Điều 29 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng dạy học bao gồm: a) Hợp đồng dạy học hết thời hạn; b) Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng dạy học; c) Nhà giáo bị kết án phạt tù theo quy định của pháp luật; d) Người nước ngoài dạy học tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc giấy phép lao động hết hiệu lực; đ) Nhà giáo chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết; e) Nhà giáo bị xử lý kỷ luật sa thải hoặc buộc thôi việc; g) Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng dạy học quy định tại Điều 29 Luật này; h) Người không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự; i) Các trường hợp thỏa thuận khác.

Tôi đồng tình rằng dự thảo đã bao quát được nhiều tình huống thực tiễn. Tuy nhiên tôi không đồng tình với việc bỏ qua tình huống hợp đồng vô hiệu, bao gồm cả những hợp đồng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Dự thảo Luật Nhà giáo có đề cập đến hợp đồng dạy học; tuy nhiên, các quy định về chấm dứt hợp đồng lại không xem xét đến trường hợp hợp đồng bị vô hiệu theo quy định của pháp luật, tức là hợp đồng dân sự vô hiệu sẽ được xử lý theo các quy định của Bộ luật Dân sự. Cụ thể là:

– Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 – 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

– Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

– Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.

Câu hỏi đặt ra là liệu hợp đồng dạy học điều chỉnh bởi Luật Nhà giáo có thể bị vô hiệu hay không. Và nếu có, thì việc vô hiệu này có thể được xem là một tình huống để chấm dứt hợp đồng dạy học hay không?

Tôi hiểu vì sao trên thực tế các hợp đồng trong kinh doanh thương mại thường có những tiêu chí rõ ràng để xác định khi nào hợp đồng bị vô hiệu. Cụ thể, theo quy định tại Thông tư số 20/2020/TT-BGDĐT ngày 27/7/2020 và Thông tư số 36/2020/TT-BGDĐT ngày 05/10/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thời gian làm việc và nghỉ hằng năm của giảng viên như sau: giảng viên đại học: Thời gian làm việc trong năm học là 44 tuần (tương đương 1.760 giờ hành chính) để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác, được xác định theo năm học sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định.

Tuy nhiên, một số trường đại học tư thục họ không áp dụng quy định thông tư này cho nên khi ký kết hợp đồng dạy học họ đưa ra một chuẩn khác trái với Thông tư này. Họ giải thích với các nhà giáo rằng, Thông tư này áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập chứ không áp dụng đối với cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập. Nhưng, là người đã công tác trong ngành luật giáo dục nhiều năm, tôi vẫn luôn băn khoăn về rằng đây có thuộc tiêu chí một trong những tình tiết xem là vi phạm pháp luật để hợp đồng dạy học bị vô hiệu hay không?

Góp ý Luật Nhà giáo vấn đề về hợp đồng vô hiệu liên quan đến quy định chấm dứt hợp đồng dạy học
Góp ý Luật Nhà giáo vấn đề về hợp đồng vô hiệu liên quan đến quy định chấm dứt hợp đồng dạy học

Trong báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về nhà giáo, tài liệu kèm theo tờ trình Quốc hội về dự án Luật Nhà giáo của Chính phủ tháng 9/2024 có nội dung sau: Hiện tại nhà giáo đang được thực hiện 2 chế độ hợp đồng: hợp đồng làm việc theo quy định của Luật Viên chức và hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

Về hợp đồng làm việc: ký kết sau khi trúng tuyển viên chức; ký giữa viên chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập (nếu viên chức là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập); hợp đồng làm việc gồm có: hợp đồng làm việc xác định thời hạn (từ đủ 12 tháng đến 60 tháng) và hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.

Về hợp đồng lao động: đơn vị công lập thực hiện theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Trong đó, đơn vị công lập tự chủ được ký kết hợp đồng lao động theo nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của đơn vị; đơn vị công lập tự chủ một phần được ký kết hợp đồng lao động để đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực còn thiếu so với định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập do bộ ngành, lĩnh vực ban hành; đơn vị công lập chưa tự chủ: ký kết hợp đồng lao động có thời gian không quá 12 tháng với số lượng chiếm không quá 70% số chênh lệch giữa số lượng người làm việc được giao với số lượng theo định mức do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; đơn vị ngoài công lập thực hiện ký kết hợp đồng lao động theo nhu cầu và theo quy định của pháp luật về lao động.

Vì vậy, cần làm rõ rằng hợp đồng dạy học tại các cơ sở giáo dục công lập hoặc ngoài công lập nếu vi phạm pháp luật sẽ bị coi là vô hiệu, và đây là một trong những tình huống dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng dạy học.  Chính các góp ý Luật Nhà giáo về vấn đề hợp đồng vô hiệu sẽ giúp các quy định trở nên đầy đủ và khả thi hơn. Các góp ý Luật Nhà giáo cần phải được lắng nghe và xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, tránh các vướng mắc không đáng có trong quá trình áp dụng thực tế. Hơn nữa góp ý Luật Nhà giáo từ các chuyên gia và cộng đồng sẽ là cơ sở để cải tiến các điều khoản, nhằm tạo ra môi trường làm việc công bằng và minh bạch cho nhà giáo.

Những góp ý Luật Nhà giáo trên hi vọng sẽ góp phần làm rõ hơn các quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn và bảo vệ quyền lợi của nhà giáo, từ đó thúc đẩy sự nghiệp giáo dục của Việt Nam ngày càng phát triển.

Để đảm bảo việc triển khai và thực hiện các quy định của Luật Nhà giáo một cách đầy đủ và hiệu quả, các cơ sở giáo dục có thể cần đến sự hỗ trợ pháp lý chuyên nghiệp, đặc biệt là khi liên quan đến các dịch vụ cấp giấy phép cho các Trung tâm Ngoại ngữ. Việc thành lập và hoạt động của các Trung tâm Ngoại ngữ tại Việt Nam đòi hỏi phải tuân thủ các quy định pháp lý liên quan đến giáo dục, đặc biệt là khi mở rộng các hoạt động giảng dạy cho đối tượng người nước ngoài hoặc các chương trình giảng dạy đặc thù. Vì vậy, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ xin cấp Giấy phép Trung tâm Ngoại ngữ tại Luật Dương Trí sẽ giúp các cơ sở giáo dục đảm bảo hoạt động đúng theo luật pháp và tránh các rủi ro pháp lý không mong muốn.

Zalo Luật Sư Hotline WhatsApp