Thực phẩm
Định lượng, thành phần, NSX/HSD, dinh dưỡng khi áp dụng, cảnh báo và hướng dẫn.
Hàng nhập khẩu không có tem phụ không phải lúc nào cũng bị phạt ngay khi vừa đến cửa khẩu. Pháp luật hiện hành tách rất rõ hai giai đoạn: nhãn gốc khi làm thủ tục thông quan và nhãn tiếng Việt trước khi hàng được đưa vào lưu thông tại Việt Nam.
Đáng chú ý, Điều 31 Nghị định 119/2017/NĐ-CP sau khi được Nghị định 126/2021/NĐ-CP sửa đổi còn loại trừ trường hợp hàng nhập khẩu đã có nhãn gốc nhưng chưa có nhãn phụ khi đang làm thủ tục thông quan khỏi hành vi xử phạt thiếu nhãn phụ. Vì vậy, doanh nghiệp cần quan tâm đúng “mốc vi phạm”: hàng đã rời quy trình thông quan và được nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ hoặc buôn bán trong trạng thái thuộc diện phải bổ sung tiếng Việt nhưng vẫn chưa hoàn thiện nhãn.
Đang làm thủ tục thông quan: nếu hàng đã có nhãn gốc nhưng chưa có nhãn phụ thì không bị xử phạt chỉ vì chưa có nhãn phụ ở thời điểm này. Tuy nhiên nhãn gốc vẫn phải đáp ứng các nội dung tối thiểu dành cho hàng nhập khẩu.
Sau thông quan: nhà nhập khẩu được tổ chức bổ sung nhãn tiếng Việt sau khi hàng được thông quan và chuyển về kho lưu giữ, nhưng phải hoàn tất trước khi đưa hàng ra lưu thông.
Khi hàng đã thuộc giai đoạn phải có nhãn tiếng Việt: hành vi nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ hoặc buôn bán hàng có nhãn gốc bằng tiếng nước ngoài nhưng không có nhãn phụ có thể bị xử phạt theo Điều 31.
Mức phạt với tổ chức: từ 500.000–1.000.000 đồng khi giá trị hàng vi phạm dưới 5 triệu đồng và tăng dần tới 25–30 triệu đồng khi giá trị hàng từ 100 triệu đồng trở lên.
Thực phẩm và một số nhóm liên quan: mức phạt tại khoản 2 Điều 31 được áp dụng gấp 02 lần đối với lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, chất bảo quản và thực phẩm chức năng.
Tem phụ có phải đăng ký không? Không có thủ tục hành chính chung yêu cầu doanh nghiệp nộp mẫu nhãn phụ để xin phê duyệt trước khi dán. Doanh nghiệp tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm về nội dung.
Cách khắc phục phổ biến: thu hồi/kiểm soát lô hàng, dừng lưu thông và ghi nhãn đúng trước khi tiếp tục phân phối; biện pháp cụ thể phụ thuộc quyết định xử lý và tình trạng hàng hóa.
Câu hỏi “hàng nhập khẩu chưa có tem phụ có vi phạm không?” không thể trả lời chỉ bằng Có/Không nếu chưa biết hàng đang ở đâu trong chuỗi nhập khẩu.
| Giai đoạn | Yêu cầu chính | Thiếu nhãn phụ có mặc nhiên bị phạt? |
|---|---|---|
| 1. Đang làm thủ tục thông quan | Nhãn gốc phải đáp ứng bộ thông tin tối thiểu dành cho hàng nhập khẩu. | Không, nếu chỉ là trường hợp đã có nhãn gốc nhưng chưa có nhãn phụ. |
| 2. Đã thông quan, chuyển về kho để xử lý hàng | Nhà nhập khẩu tổ chức bổ sung nội dung tiếng Việt cần thiết và kiểm soát không để hàng chưa hoàn thiện nhãn đi vào lưu thông. | Phải đánh giá tình trạng thực tế, mục đích lưu giữ/vận chuyển và việc doanh nghiệp có đang thực hiện đúng lộ trình bổ sung nhãn hay không. |
| 3. Đã đưa vào lưu thông/phân phối/bày bán | Hàng thuộc diện phải bổ sung tiếng Việt phải có nhãn phụ đúng nội dung và giữ nguyên nhãn gốc. | Có nguy cơ xử phạt rõ ràng theo Điều 31 nếu nhãn gốc là tiếng nước ngoài nhưng không có nhãn phụ tiếng Việt. |
Đây là điểm bài cũ dễ làm doanh nghiệp hiểu sai. Không nên nói “nhập về kho rồi dán từ từ là bị xử lý ngay tại cửa khẩu”. Pháp luật cho phép bổ sung nhãn sau thông quan; nhưng doanh nghiệp phải kiểm soát chặt để hàng chưa hoàn thiện nhãn không bị đưa vào chuỗi lưu thông.
Không bị xử phạt chỉ vì chưa có nhãn phụ ở thời điểm làm thủ tục thông quan nếu hàng nhập khẩu đã có nhãn gốc. Điểm này được thể hiện trực tiếp tại khoản 1 Điều 31 Nghị định 119/2017/NĐ-CP sau sửa đổi bởi Nghị định 126/2021/NĐ-CP.
Quy định xử phạt loại trừ trường hợp:
Điều này không đồng nghĩa “hải quan không kiểm tra nhãn”. Nghị định 111/2021/NĐ-CP quy định riêng các thông tin mà nhãn gốc phải có khi làm thủ tục thông quan.
Nghị định 127/2013/NĐ-CP không còn là căn cứ xử phạt hải quan hiện hành. Văn bản này và Nghị định 45/2016/NĐ-CP đã hết hiệu lực từ 10/12/2020 khi Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có hiệu lực.
Nghị định 111/2021/NĐ-CP quy định nhãn gốc hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam phải thể hiện bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt các nội dung tối thiểu khi làm thủ tục thông quan:
Vì vậy, doanh nghiệp không nên nhập một lô hàng hoàn toàn “trắng nhãn” rồi kỳ vọng dán một sticker tiếng Việt tại Việt Nam sẽ giải quyết toàn bộ vấn đề. Nhãn gốc và nhãn phụ có hai chức năng pháp lý khác nhau.

Nếu trên nhãn hàng hóa nhập khẩu chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt, nhà nhập khẩu phải bổ sung nội dung tiếng Việt theo quy định.
Nghị định 111 làm rõ trình tự thực tế: sau khi hàng được thông quan và chuyển về kho lưu giữ, tổ chức/cá nhân nhập khẩu bổ sung nhãn bằng tiếng Việt theo quy định trước khi đưa hàng hóa vào lưu thông tại thị trường Việt Nam.
Có thể hiểu theo workflow:
Kiểm tra tên hàng, xuất xứ và thông tin chủ thể nước ngoài trước khi ship; không đợi hàng tới Việt Nam mới xử lý nhãn gốc.
Tách hàng chưa hoàn thiện nhãn khỏi khu vực hàng sẵn sàng bán; quản lý SKU/lô rõ ràng để tránh xuất nhầm.
Đối chiếu nhãn gốc, hồ sơ công bố/giấy phép, specification và Phụ lục I theo đúng nhóm sản phẩm.
Không che nội dung bắt buộc của nhãn gốc; kiểm tra đúng SKU, LOT, model, định lượng và cảnh báo.
POS, đại lý, kho xuất hàng và đội sales chỉ được nhận trạng thái “ready for sale” khi nhãn đã hoàn thiện.
Điểm b khoản 1 Điều 31 quy định hành vi nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ, buôn bán hàng hóa nhập khẩu có nhãn gốc bằng tiếng nước ngoài nhưng không có nhãn phụ bằng tiếng Việt Nam là hành vi vi phạm, trừ ngoại lệ tại thời điểm làm thủ tục thông quan.
Doanh nghiệp có nguy cơ cao khi:
Kho là vùng doanh nghiệp phải quản trị cẩn thận nhất. Pháp luật về nhãn cho phép chuyển hàng sau thông quan về kho để bổ sung nhãn, trong khi quy định xử phạt cũng nhắc tới hành vi “lưu giữ”. Vì vậy doanh nghiệp nên có bằng chứng hàng đang ở khu vực chờ dán nhãn, quy trình cách ly, lệnh sản xuất tem và tuyệt đối không xuất bán trước khi hoàn thiện.
Đối với hành vi thuộc khoản 1 Điều 31, mức phạt được xác định theo giá trị hàng hóa vi phạm. Bảng dưới đây thể hiện mức tiền phạt áp dụng đối với tổ chức; cá nhân có cùng hành vi chịu mức tiền phạt bằng một nửa theo cơ chế xử phạt áp dụng.
| Giá trị hàng hóa vi phạm | Mức phạt đối với tổ chức |
|---|---|
| Dưới 5 triệu đồng | 500.000 – 1.000.000 đồng. |
| Từ 5 đến dưới 10 triệu đồng | 1.000.000 – 3.000.000 đồng. |
| Từ 10 đến dưới 20 triệu đồng | 3.000.000 – 7.000.000 đồng. |
| Từ 20 đến dưới 30 triệu đồng | 7.000.000 – 10.000.000 đồng. |
| Từ 30 đến dưới 50 triệu đồng | 10.000.000 – 15.000.000 đồng. |
| Từ 50 đến dưới 70 triệu đồng | 15.000.000 – 20.000.000 đồng. |
| Từ 70 đến dưới 100 triệu đồng | 20.000.000 – 25.000.000 đồng. |
| Từ 100 triệu đồng trở lên | 25.000.000 – 30.000.000 đồng. |
Đây là khung cho hành vi thiếu/sai nội dung bắt buộc hoặc hàng nhập khẩu có nhãn gốc tiếng nước ngoài nhưng không có nhãn phụ tiếng Việt theo Điều 31. Nếu lô hàng đồng thời có hành vi khác như không có nhãn gốc, nhãn bị sửa làm sai lệch thông tin, gian lận hạn dùng, sai xuất xứ hoặc không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp thì có thể phát sinh hành vi xử phạt khác, không được cộng gộp một cách máy móc vào bảng trên.
Khoản 2 Điều 31 có cơ chế gấp 02 lần mức phạt tương ứng đối với hàng vi phạm là:
Ví dụ, nếu lô thực phẩm có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên thuộc đúng hành vi khoản 1 Điều 31, khung cơ sở 25–30 triệu đồng có thể được áp dụng gấp đôi theo quy định, tức 50–60 triệu đồng đối với tổ chức.
Đây là lý do bảng phạt cũ “hàng trên 100 triệu phạt 30–60 triệu tùy nghị định” không chính xác. Mức 50–60 triệu không phải một khung tùy ý; nó xuất hiện khi thuộc nhóm hàng được pháp luật quy định áp dụng gấp đôi.
Không nên kết luận mọi lô hàng thiếu nhãn phụ sẽ bị tái xuất hoặc mọi trường hợp đều chỉ cần “nộp phạt rồi dán lại”. Điều 31 quy định một hệ thống biện pháp khắc phục theo thứ tự và điều kiện của vụ việc.
Các biện pháp có thể gồm:
Với lỗi đơn thuần là nhãn phụ tiếng Việt chưa được hoàn thiện nhưng hàng hóa vẫn có nguồn gốc hợp pháp và nội dung có thể sửa, biện pháp thu hồi – ghi nhãn đúng trước khi tiếp tục lưu thông là tình huống doanh nghiệp cần chuẩn bị phương án xử lý thực tế. Tuy nhiên quyết định cụ thể thuộc cơ quan có thẩm quyền dựa trên hồ sơ vi phạm.

Không có một thủ tục hành chính chung yêu cầu doanh nghiệp nộp mẫu tem phụ lên cơ quan nhà nước để xin phê duyệt trước khi sử dụng. Nghĩa vụ của doanh nghiệp là tự xác định và thể hiện đúng nội dung bắt buộc.
Cần phân biệt:
| Việc cần làm | Có phải “đăng ký tem phụ”? |
|---|---|
| Soạn nội dung tiếng Việt và dán lên hàng nhập khẩu. | Không. Đây là nghĩa vụ ghi nhãn. |
| Tự công bố/đăng ký bản công bố thực phẩm, công bố mỹ phẩm hoặc thủ tục sản phẩm khác. | Không phải đăng ký tem phụ; là thủ tục chuyên ngành của sản phẩm. |
| Đăng ký nhãn hiệu/logo. | Là thủ tục sở hữu trí tuệ riêng, không phải phê duyệt nhãn phụ. |
| Hợp quy/công bố hợp quy. | Là thủ tục chất lượng sản phẩm riêng khi hàng thuộc phạm vi áp dụng. |
Không phải xin duyệt không có nghĩa được tự viết tùy ý. Nhà nhập khẩu chịu trách nhiệm nếu dịch sai thành phần, tự thêm công dụng, ghi sai xuất xứ hoặc bỏ sót cảnh báo bắt buộc.
Nhãn hàng hóa lưu thông tại Việt Nam có ba nội dung lõi:
Sau đó phải bổ sung nội dung theo từng nhóm tại Phụ lục I và luật chuyên ngành. Ví dụ:
Định lượng, thành phần, NSX/HSD, dinh dưỡng khi áp dụng, cảnh báo và hướng dẫn.
Định lượng, thành phần, số lô, ngày sản xuất/hạn dùng, hướng dẫn và cảnh báo.
Năm sản xuất, thông số kỹ thuật, cảnh báo và hướng dẫn sử dụng/bảo quản.
Thành phần, mã nhận dạng, cảnh báo nguy cơ, biện pháp phòng ngừa và yêu cầu chuyên ngành.
Nếu cần template cụ thể, xem mẫu nhãn phụ hàng hóa nhập khẩu. Với nền tảng pháp lý tổng thể, xem quy định về nhãn hàng hóa.
Pháp luật cho phép nhà nhập khẩu bổ sung nhãn sau thông quan và chuyển hàng về kho, nhưng đây không nên được hiểu là doanh nghiệp có thể để hàng chưa nhãn lẫn với hàng sẵn sàng bán vô thời hạn.
Để giảm rủi ro khi cơ quan kiểm tra tại kho, doanh nghiệp nên tạo một quy trình cách ly hàng chờ ghi nhãn:
Điều này không tạo một “miễn trừ tự động” nếu hàng thực tế đã được vận chuyển/lưu giữ để kinh doanh trong tình trạng vi phạm, nhưng giúp doanh nghiệp chứng minh quy trình bổ sung nhãn đang được thực hiện đúng giai đoạn trước lưu thông.
Khóa SKU, thông báo kho – sales – đại lý và xác định hàng còn ở kho hay đã đi vào kênh phân phối.
Xác định nhãn gốc có đủ tên hàng, xuất xứ, nhà sản xuất/chủ thể nước ngoài và các thông tin nguồn để dịch hay không.
Đối chiếu Phụ lục I và quy định riêng của thực phẩm, mỹ phẩm, hóa chất, thiết bị, đồ chơi hoặc nhóm tương ứng.
Không chỉ dịch nhãn gốc; phải bổ sung các nội dung pháp luật Việt Nam yêu cầu còn thiếu và đồng bộ với hồ sơ công bố/giấy phép.
Nếu hàng đã tới đại lý/cửa hàng, lập danh sách tồn và tạm ngừng bán để dán nhãn đúng trước khi tiếp tục lưu thông.
Ảnh trước/sau, số lượng đã dán lại, artwork, danh sách lô và biên bản nghiệm thu giúp kiểm soát nội bộ và làm việc khi có yêu cầu.
Không nên hiểu đây chỉ là trách nhiệm của người đứng tên tờ khai. Điều 31 mô tả hành vi nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ, buôn bán hàng hóa vi phạm nhãn, nên các chủ thể trong chuỗi có thể bị xem xét theo hành vi thực tế của mình.
Về kiểm soát hợp đồng, doanh nghiệp nên xác định:

Thời điểm hoàn thiện nhãn phải trước khi hàng được đưa vào lưu thông.
Làm sai workflow; pháp luật loại trừ thiếu nhãn phụ tại thời điểm đang thông quan.
Nhãn phụ sau này không làm mất nghĩa vụ kiểm soát nhãn gốc khi nhập khẩu.
Có sticker không đồng nghĩa đã tuân thủ Điều 10 và Phụ lục I.
Đặc biệt rủi ro với thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, thiết bị y tế và hóa chất.
Brand country, barcode hoặc địa chỉ tập đoàn không tự động là xuất xứ sản phẩm.
Nhãn phụ phải giữ nguyên nhãn gốc và không che nội dung bắt buộc.
Không có bước khóa ERP/kho khiến hàng chưa hoàn thiện nhãn lọt vào phân phối.
Nghị định xử phạt hải quan này đã hết hiệu lực từ 10/12/2020.
Doanh nghiệp còn phải thực hiện biện pháp khắc phục theo quyết định, thường bao gồm hoàn thiện nhãn trước khi tiếp tục lưu thông.
Nếu hàng đã có nhãn gốc và đang làm thủ tục thông quan thì Điều 31 loại trừ việc xử phạt chỉ vì chưa có nhãn phụ ở thời điểm này. Tuy nhiên nhãn gốc vẫn phải đáp ứng yêu cầu dành cho hàng nhập khẩu.
Có cơ chế bổ sung nhãn sau thông quan và chuyển hàng về kho, nhưng phải hoàn thiện trước khi đưa hàng ra lưu thông. Doanh nghiệp nên cách ly hàng chờ dán nhãn và không xuất bán.
Không nên khẳng định tuyệt đối. Điều 31 còn đề cập hành vi nhập khẩu, vận chuyển và lưu giữ. Doanh nghiệp cần chứng minh hàng đang ở giai đoạn xử lý sau thông quan, được cách ly và chưa release vào lưu thông.
Khung cơ sở đối với tổ chức theo khoản 2 Điều 31 lên tới 25–30 triệu đồng khi giá trị hàng vi phạm từ 100 triệu đồng trở lên. Một số nhóm thực phẩm được áp dụng gấp đôi khung tiền phạt.
Cần xác định chủ thể là cá nhân hay tổ chức theo pháp luật xử phạt. Bảng trong bài thể hiện mức áp dụng đối với tổ chức; cá nhân có cùng hành vi áp dụng mức tiền phạt bằng một nửa theo cơ chế hiện hành.
Tái xuất là một trong các biện pháp khắc phục luật quy định nhưng không phải kết quả tự động của mọi vụ việc. Tùy tình trạng, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng thu hồi và ghi nhãn đúng trước khi tiếp tục lưu thông hoặc biện pháp khác.
Không có thủ tục chung như vậy. Doanh nghiệp tự ghi nhãn và chịu trách nhiệm về nội dung; các thủ tục công bố, hợp quy, đăng ký sản phẩm hoặc nhãn hiệu là thủ tục khác.
Nếu nhãn đã thể hiện đầy đủ nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và đáp ứng quy định chuyên ngành thì không nhất thiết phải có một sticker nhãn phụ riêng chỉ vì hàng được nhập khẩu.
Có thể. Điều 31 không chỉ xử lý trường hợp “không có nhãn phụ” mà còn hành vi nhãn hoặc tài liệu kèm theo không ghi đủ/không đúng nội dung bắt buộc.
Có thể. Quy định xử phạt bao gồm hành vi buôn bán hàng nhập khẩu có nhãn gốc tiếng nước ngoài nhưng không có nhãn phụ. Đại lý nên dừng bán và yêu cầu nhà cung cấp khắc phục ngay.
Không mặc nhiên. Chỉ những nội dung và nhóm hàng được pháp luật cho phép thể hiện bằng phương thức điện tử mới có thể xử lý theo cơ chế đó; các nội dung phải hiện trực tiếp vẫn phải được ghi trên nhãn.
Từ trước khi nhà cung cấp xuất hàng. Kiểm tra nhãn gốc trước shipment, chuẩn bị artwork tiếng Việt khi hàng đang vận chuyển và tổ chức dán/kiểm nghiệm ngay sau thông quan giúp tránh hàng tồn kho hoặc phân phối nhầm khi chưa đủ nhãn.
Bạn có thể gửi ảnh tất cả các mặt nhãn gốc, tên sản phẩm/SKU, tờ khai hoặc tình trạng thông quan, nơi hàng đang lưu giữ, hồ sơ công bố/giấy phép chuyên ngành nếu có và bản nhãn phụ dự kiến. Luật Dương Trí sẽ hỗ trợ xác định hàng đang ở giai đoạn nào, nội dung còn thiếu và phương án hoàn thiện nhãn trước khi tiếp tục lưu thông.