Hàng sản xuất trong nước
Phải được ghi nhãn phù hợp trước khi đưa ra lưu thông; nhà sản xuất chịu trách nhiệm về việc ghi nhãn theo phạm vi luật định.
Quy định về nhãn hàng hóa năm 2026 không chỉ yêu cầu “có tem” trên sản phẩm. Doanh nghiệp phải xác định đúng ai chịu trách nhiệm về nhãn, ba nội dung lõi bắt buộc, các nội dung riêng theo từng nhóm hàng, ngôn ngữ, xuất xứ, vị trí – kích thước, nhãn gốc của hàng nhập khẩu và thời điểm phải hoàn thiện nhãn phụ.
Điểm dễ sai nhất là dùng một checklist giống nhau cho mọi sản phẩm. Theo Nghị định 43/2017/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi Nghị định 111/2021/NĐ-CP, tất cả hàng hóa lưu thông đều có 03 nội dung nền tảng; nhưng phần còn lại phải xác định theo Phụ lục I và pháp luật chuyên ngành. Vì vậy nhãn thực phẩm, mỹ phẩm, điện tử, hóa chất, đồ chơi hoặc thiết bị y tế không thể được rà soát bằng cùng một mẫu.
Ai chịu trách nhiệm? Chủ thể sản xuất hàng lưu thông trong nước hoặc tổ chức/cá nhân nhập khẩu/đưa hàng ra lưu thông; thuê agency, nhà in hoặc nhà máy gia công không làm chuyển trách nhiệm pháp lý về nhãn.
Ba nội dung lõi: tên hàng hóa; tên và địa chỉ tổ chức/cá nhân chịu trách nhiệm; xuất xứ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn cuối cùng theo trường hợp luật định.
Nội dung còn lại: không có một bộ chung. Doanh nghiệp phải đọc đúng dòng sản phẩm tại Phụ lục I và quy định chuyên ngành.
Hàng nhập khẩu: nhãn gốc phải đáp ứng thông tin tối thiểu ở giai đoạn thông quan; nếu cần bổ sung tiếng Việt thì hoàn thiện sau thông quan/chuyển về kho và trước khi đưa hàng ra lưu thông.
Nhãn phụ: phải giữ nguyên nhãn gốc và không che khuất nội dung bắt buộc; nội dung dịch/bổ sung phải trung thực, chính xác.
Hàng nhỏ không đủ diện tích: 03 nội dung lõi vẫn phải có trên nhãn; một số nội dung theo tính chất hàng hóa có thể đưa vào tài liệu kèm theo nếu đáp ứng điều kiện và nhãn chỉ rõ nơi ghi.
Rủi ro xử phạt: thiếu nội dung, sai ngôn ngữ/kích thước, không có nhãn phụ khi hàng nhập khẩu đã lưu thông hoặc ghi sai bản chất hàng hóa có thể dẫn đến phạt tiền và buộc thu hồi – ghi nhãn lại trước khi tiếp tục lưu thông.
Nghị định 43/2017/NĐ-CP điều chỉnh hàng hóa lưu thông tại Việt Nam và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, trừ các nhóm pháp luật loại trừ hoặc có cơ chế chuyên biệt. Doanh nghiệp không nên bắt đầu bằng câu hỏi “có cần nhãn phụ không?” mà nên xác định hàng đang ở giai đoạn nào và được đưa ra thị trường dưới hình thức nào.
Phải được ghi nhãn phù hợp trước khi đưa ra lưu thông; nhà sản xuất chịu trách nhiệm về việc ghi nhãn theo phạm vi luật định.
Phải kiểm tra nhãn gốc khi nhập và hoàn thiện nội dung tiếng Việt trước khi lưu thông nếu nhãn gốc chưa đáp ứng.
Khi được đưa ra lưu thông tại Việt Nam, tổ chức/cá nhân đưa hàng ra lưu thông phải ghi nhãn theo quy định áp dụng tại Việt Nam.
Thuốc, trang thiết bị y tế, hóa chất, thực phẩm, mỹ phẩm, đồ chơi và nhiều nhóm khác phải kiểm tra thêm quy định chuyên ngành.
Không nên coi Nghị định 43 là “toàn bộ luật nhãn”. Với nhóm hàng có quy định chuyên ngành chi tiết hơn, doanh nghiệp phải áp dụng đồng thời hoặc ưu tiên cơ chế chuyên ngành theo nguyên tắc áp dụng pháp luật.
Điều 9 Nghị định 43 đặt trách nhiệm vào tổ chức/cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn và đưa hàng ra lưu thông, chứ không phải người trực tiếp thiết kế hoặc dán tem.
| Tình huống | Chủ thể cần kiểm soát trách nhiệm nhãn | Lưu ý |
|---|---|---|
| Hàng sản xuất để lưu thông trong nước | Tổ chức/cá nhân sản xuất. | Thuê nhà máy gia công không đồng nghĩa giao hết trách nhiệm nhãn cho nhà máy nếu thương nhân là chủ thể chịu trách nhiệm theo cấu trúc hàng hóa. |
| Thuê đơn vị ngoài thiết kế/in/dán nhãn | Chủ thể yêu cầu việc ghi nhãn vẫn chịu trách nhiệm về nhãn của mình. | Agency/nhà in có thể chịu trách nhiệm theo hợp đồng, nhưng không làm mất trách nhiệm hành chính của chủ thể hàng hóa. |
| Hàng nhập khẩu | Tổ chức/cá nhân nhập khẩu và các chủ thể lưu giữ/buôn bán phải bảo đảm nhãn phù hợp ở giai đoạn tương ứng. | Phải giữ nguyên nhãn gốc; nếu bổ sung nhãn tiếng Việt thì nội dung phải phù hợp nhãn gốc và pháp luật Việt Nam. |
| Hàng xuất khẩu bị trả lại, chuyển sang bán trong nước | Tổ chức/cá nhân đưa hàng ra lưu thông tại Việt Nam. | Không dùng nguyên artwork xuất khẩu nếu không đáp ứng quy định nội địa. |
Điểm cần sửa so với cách hiểu phổ biến: không nên nói “người đứng tên tờ khai hải quan là người duy nhất chịu trách nhiệm trong mọi tình huống”. Khi hàng đi vào chuỗi lưu thông, chủ thể nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ và buôn bán đều có thể có nghĩa vụ tuân thủ tương ứng theo pháp luật xử phạt.

Điều 10 Nghị định 43/2017/NĐ-CP, sau sửa đổi, xác định nhãn hàng hóa phải có:
Ba mục đầu là “xương sống”. Nhưng một nhãn chỉ có ba mục này vẫn có thể chưa hợp lệ nếu sản phẩm thuộc nhóm phải thể hiện thêm định lượng, thành phần, NSX/HSD, số lô, thông số kỹ thuật, cảnh báo, hướng dẫn sử dụng hoặc các thông tin khác.
Đừng audit nhãn theo cảm giác “đã đủ nhiều chữ”. Cách đúng là lập bảng: yêu cầu pháp lý → nội dung trên nhãn → nguồn chứng minh → vị trí thể hiện. Nhãn càng nhiều chữ nhưng sai công dụng, xuất xứ hoặc cảnh báo thì rủi ro càng lớn.
Phụ lục I không yêu cầu mọi sản phẩm cùng một bộ trường. Dưới đây là một số nhóm thường gặp để doanh nghiệp hình dung cách phân loại.
| Nhóm hàng | Nội dung ngoài 03 mục lõi thường phải kiểm tra | Rủi ro hay gặp |
|---|---|---|
| Thực phẩm | Định lượng; NSX/HSD; thành phần; thông tin dinh dưỡng khi áp dụng; cảnh báo; hướng dẫn sử dụng/bảo quản. | Thiếu dinh dưỡng, sai allergen/cảnh báo, dịch sai thành phần hoặc ngày tháng. |
| Mỹ phẩm | Định lượng; thành phần; số lô; ngày sản xuất/hạn dùng; hướng dẫn/cảnh báo khi cần. | Công dụng vượt hồ sơ công bố, sai tên/thành phần, thiếu batch hoặc warning. |
| Thiết bị điện – điện tử/CNTT | Năm sản xuất; thông số kỹ thuật; cảnh báo; hướng dẫn sử dụng/bảo quản. | Chỉ ghi model nhưng thiếu thông số điện, cảnh báo hoặc năm sản xuất. |
| Đồ chơi trẻ em | Thành phần/vật liệu; thông số; cảnh báo; hướng dẫn; năm sản xuất. | Thiếu cảnh báo độ tuổi/chi tiết nhỏ hoặc không đồng bộ với hợp quy. |
| Hóa chất | Thành phần; mã nhận dạng; cảnh báo nguy cơ; biện pháp phòng ngừa; HDSD/bảo quản và thông tin khác theo pháp luật hóa chất. | Dịch cảnh báo không theo phân loại nguy hại hoặc không khớp SDS. |
| Trang thiết bị y tế | Áp dụng nội dung bắt buộc theo Phụ lục I và pháp luật chuyên ngành. | Nhãn không khớp hồ sơ lưu hành/importer/manufacturer. |
Nếu hàng có tính chất thuộc nhiều nhóm mà pháp luật chưa quy định riêng, doanh nghiệp xác định nhóm theo công dụng chính của hàng hóa để ghi nội dung tương ứng.
Với thực phẩm, xem sâu tại quy định về ghi nhãn hàng hóa thực phẩm. Nếu cần một mẫu để điền, tham khảo mẫu nhãn phụ hàng hóa nhập khẩu.

Đây là phần doanh nghiệp nhập khẩu dễ nhầm nhất. Nghị định 111/2021/NĐ-CP đã làm rõ yêu cầu nhãn gốc ở giai đoạn nhập khẩu và việc bổ sung nhãn tiếng Việt sau đó.
Nhãn gốc hàng nhập khẩu phải thể hiện các thông tin tối thiểu theo quy định, gồm:
Nếu nhãn gốc chưa có đủ nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt, tổ chức/cá nhân nhập khẩu phải bổ sung nhãn tiếng Việt sau khi hàng được thông quan, chuyển về kho lưu giữ và trước khi đưa ra lưu thông tại Việt Nam.
Nhãn phụ được gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm và không được che khuất các nội dung bắt buộc trên nhãn gốc. Nội dung tiếng Việt phải phản ánh trung thực bản chất hàng hóa.
Không nên xử phạt tư duy bằng câu “chưa có nhãn phụ tại cảng = vi phạm”. Quy định xử phạt hiện hành loại trừ trường hợp hàng nhập khẩu đã có nhãn gốc nhưng chưa có nhãn phụ khi đang làm thủ tục thông quan; nhãn phải được hoàn thiện đúng trước khi hàng ra lưu thông.
Xem chi tiết tại quy định về tem nhãn hàng hóa nhập khẩu và hàng nhập khẩu không có tem phụ có bị phạt không.
Những nội dung bắt buộc của hàng hóa lưu thông tại Việt Nam phải được thể hiện bằng tiếng Việt, trừ trường hợp pháp luật cho phép sử dụng ngôn ngữ khác hoặc thuật ngữ quốc tế phù hợp.
Doanh nghiệp có thể ghi thêm tiếng nước ngoài nhưng:
Thương hiệu/tên thương mại có thể xuất hiện trên bao bì nhưng không được làm mất khả năng nhận biết tên hàng hóa. Nếu tên brand không nói rõ bản chất sản phẩm, doanh nghiệp cần ghi tên hàng phù hợp để người tiêu dùng biết đó là loại hàng gì.
Xuất xứ là một trong 03 nội dung lõi và là phần có rủi ro cao nếu doanh nghiệp tự suy diễn từ thương hiệu, barcode hoặc địa chỉ công ty mẹ.
Có thể dùng cách ghi phù hợp như:
Nếu không xác định được xuất xứ theo quy tắc xuất xứ, pháp luật cho phép ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa theo cách phù hợp như “Lắp ráp tại…”, “Đóng gói tại…”, “Hoàn tất tại…” khi đáp ứng điều kiện.
Barcode 893 không chứng minh “Made in Vietnam”. Mã GS1 thể hiện tổ chức GS1 phân bổ dải số, không phải chứng từ xác định xuất xứ. Tương tự, thương hiệu Nhật nhưng sản xuất tại Trung Quốc không được tự ghi xuất xứ Nhật Bản.
Đối với hàng sản xuất trong nước, tên và địa chỉ chủ thể chịu trách nhiệm được xác định theo vai trò của nhà sản xuất/chủ thể đặt sản xuất và các quy định có liên quan.
Đối với hàng nhập khẩu lưu thông tại Việt Nam, doanh nghiệp phải kiểm tra thông tin về:
Địa chỉ thay đổi do sắp xếp đơn vị hành chính cũng nên được doanh nghiệp chuẩn hóa trong quy trình artwork mới để tránh dữ liệu bao bì, hóa đơn và giấy phép chuyên ngành không đồng nhất.
Nhãn phải được đặt ở vị trí để có thể quan sát các nội dung bắt buộc mà không phải tháo rời chi tiết hay bộ phận của hàng hóa. Nếu nhãn ngoài không thể hiện đầy đủ thì phải chỉ rõ nơi ghi thông tin theo điều kiện luật định.
Không có một kích thước sticker chung cho mọi hàng hóa. Tổ chức/cá nhân quyết định kích thước nhãn, chữ và số nhưng phải bảo đảm:
Nếu kích thước hàng hóa không đủ để thể hiện toàn bộ nội dung bắt buộc, tên hàng hóa – chủ thể chịu trách nhiệm – xuất xứ vẫn phải ghi trên nhãn. Các nội dung theo tính chất hàng hóa có thể được ghi trong tài liệu kèm theo khi đủ điều kiện và trên nhãn phải chỉ ra nơi ghi những nội dung đó.
Thông tư 18/2022/TT-BKHCN cho phép một số nội dung bắt buộc của một số nhóm hàng được thể hiện bằng phương thức điện tử. Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên hiểu thành “chỉ in QR là đủ”.
Trước khi chuyển thông tin vào QR/website, cần kiểm tra:
Nhãn điện tử là công cụ bổ sung, không phải cách để loại bỏ ba nội dung lõi hoặc né yêu cầu chuyên ngành.
Từ 10/07/2026, Thông tư 30/2026/TT-BYT là văn bản mới hướng dẫn nội dung và cách ghi thành phần dinh dưỡng, giá trị dinh dưỡng trên nhãn thực phẩm. Vì vậy, các checklist thực phẩm chỉ dựa trên Thông tư 29/2023/TT-BYT cần được cập nhật theo văn bản 2026.
Khi duyệt nhãn thực phẩm, ngoài Nghị định 43/2017 và 111/2021, doanh nghiệp nên kiểm tra riêng:
Đây là cập nhật quan trọng của năm 2026. Với doanh nghiệp thực phẩm, không nên tiếp tục dùng artwork được duyệt nhiều năm trước mà không rà lại yêu cầu dinh dưỡng mới trước các lần in tiếp theo.
Ghi rõ tên sản phẩm, model/quy cách, công dụng chính và nhóm Phụ lục I; một sản phẩm nhiều biến thể phải kiểm soát từng SKU.
Tách 03 nội dung lõi, nội dung theo Phụ lục I và yêu cầu chuyên ngành. Không dùng một checklist chung của doanh nghiệp cho mọi ngành hàng.
Dùng specification, công bố/đăng ký, SDS, certificate, manual, formula, hợp đồng gia công hoặc hồ sơ sản phẩm để xác minh từng nội dung trên nhãn.
Không suy từ barcode/thương hiệu; kiểm tra manufacturer, importer, địa chỉ và cách ghi xuất xứ có căn cứ.
Đặc biệt kiểm tra date code nước ngoài, dấu thập phân, định lượng, đơn vị và bản dịch cảnh báo/công dụng.
Đánh giá vị trí, độ đọc, phần bị gấp/che, khả năng bám, barcode/QR và việc nhãn phụ có che nhãn gốc hay không.
Lưu artwork cuối, ngày duyệt, SKU, lô áp dụng, nguồn dữ liệu và người phê duyệt để quản trị khi có thay đổi pháp luật hoặc hồ sơ sản phẩm.
Khung xử phạt chính hiện nay nằm tại Nghị định 119/2017/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 126/2021/NĐ-CP. Mức phạt phụ thuộc hành vi, giá trị hàng hóa vi phạm, loại hàng và chủ thể vi phạm; vì vậy không nên dùng một con số “phạt tối đa 30 triệu” cho mọi tình huống.
| Nhóm hành vi | Cách xác định mức phạt chính | Khắc phục thường gặp |
|---|---|---|
| Nhãn bị che lấp/rách/mờ; sai cách ghi, ngôn ngữ, kích thước chữ – số… | Điều 30 áp dụng khung theo giá trị hàng hóa vi phạm. | Thu hồi và ghi nhãn đúng trước khi đưa vào lưu thông; xử lý nhãn/hàng nếu không thể khắc phục theo trường hợp. |
| Thiếu/sai nội dung bắt buộc; hàng nhập khẩu lưu thông không có nhãn phụ tiếng Việt | Điều 31: dưới 5 triệu đồng giá trị hàng vi phạm có khung từ 500.000–1.000.000 đồng; từ 5 triệu đồng trở lên tăng dần theo giá trị và có thể đến 25–30 triệu đồng ở ngưỡng từ 100 triệu đồng trở lên. | Có thể buộc tái xuất/đưa ra khỏi lãnh thổ, thu hồi – ghi nhãn đúng trước khi lưu thông hoặc xử lý hàng/nhãn theo điều kiện. |
| Nhóm thực phẩm và một số hàng nhạy cảm | Một số hành vi tại Điều 31 bị áp dụng gấp 02 lần khung tiền phạt khi hàng vi phạm là lương thực, thực phẩm, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, chất bảo quản hoặc thực phẩm chức năng. | Khắc phục theo tính chất vi phạm và tình trạng hàng. |
| Nhãn có thông tin sai bản chất, sai sự thật; tẩy xóa/sửa chữa làm sai lệch thông tin; gian lận hạn dùng | Khung xử lý riêng, có thể nghiêm trọng hơn nhãn chỉ thiếu trường thông tin. | Thu hồi, loại bỏ thông tin sai; hàng quá hạn/gian lận thời hạn có thể chịu biện pháp nghiêm hơn. |
Lưu ý về mức phạt: pháp luật xử phạt có quy tắc khác nhau giữa tổ chức và cá nhân; khi áp dụng cho một vụ việc cụ thể cần xác định đúng chủ thể, hành vi và giá trị tang vật thay vì lấy một con số từ bảng tổng hợp.
Chi phí thực tế thường lớn hơn tiền phạt. Một lỗi nhãn trên hàng đã phân phối có thể kéo theo việc dừng bán, thu hồi SKU, thu gom hàng từ đại lý, bóc nhãn, in lại, dán lại, kiểm đếm và trì hoãn launch. Vì vậy audit artwork trước in hàng loạt thường rẻ hơn nhiều so với “sửa nhãn sau kiểm tra”.

Bỏ qua Phụ lục I và quy định riêng của chính nhóm sản phẩm.
Thực phẩm, mỹ phẩm, thiết bị điện tử và hóa chất có trường thông tin khác nhau.
Thuê bên ngoài thực hiện không làm mất trách nhiệm của chủ thể hàng hóa.
Nhãn gốc có yêu cầu tối thiểu ngay ở giai đoạn thông quan.
Nhãn phụ không được che nội dung bắt buộc trên nhãn gốc.
Có thể làm nhãn vượt hồ sơ công bố/giấy phép hoặc sai bản chất hàng hóa.
Quốc gia của brand hoặc barcode không phải bằng chứng xuất xứ.
Tên viết tắt, địa chỉ hoặc vai trò chủ thể không khớp hồ sơ pháp lý.
Nhãn điện tử chỉ áp dụng cho nội dung và nhóm hàng được pháp luật cho phép.
Từ 10/07/2026, thực phẩm phải kiểm tra Thông tư 30/2026/TT-BYT.
Thông tin định lượng/model/thành phần sai SKU vẫn là nhãn sai.
Khi tranh chấp hoặc kiểm tra, doanh nghiệp không xác định được phiên bản nhãn đã dùng cho từng lô.
Chủ thể chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa vẫn phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, rõ ràng và chính xác của nhãn. Hợp đồng với agency/nhà in có thể phân bổ trách nhiệm dân sự giữa các bên nhưng không tự loại bỏ nghĩa vụ hành chính của chủ thể hàng hóa.
Tên hàng hóa; tên và địa chỉ tổ chức/cá nhân chịu trách nhiệm; xuất xứ hàng hóa hoặc cách ghi nơi hoàn thiện cuối cùng trong trường hợp luật định. Sau đó phải kiểm tra thêm nội dung theo nhóm hàng.
Không nên kết luận như vậy. Quy định xử phạt có loại trừ trường hợp hàng nhập khẩu đã có nhãn gốc nhưng chưa có nhãn phụ khi đang làm thủ tục thông quan. Doanh nghiệp phải hoàn thiện nhãn tiếng Việt trước khi đưa hàng ra lưu thông.
Có thể, nhưng phải đáp ứng các thông tin tối thiểu của nhãn hàng nhập khẩu tại giai đoạn thông quan. Trước khi lưu thông tại Việt Nam, nội dung bắt buộc chưa có tiếng Việt phải được bổ sung theo quy định.
Không. Nếu nhãn đã đáp ứng đầy đủ nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì không nhất thiết cần thêm một sticker chỉ vì là hàng nhập khẩu. Pháp luật quan tâm nội dung và cách ghi, không bắt buộc cụm chữ “NHÃN PHỤ” như một tiêu đề chung.
Không. Xuất xứ phải có cơ sở theo quy tắc xuất xứ và thực tế sản xuất. Quốc gia của thương hiệu, barcode hoặc công ty mẹ không tự động là xuất xứ hàng hóa.
Không. Ba nội dung lõi vẫn phải được thể hiện trên nhãn. Một số nội dung theo tính chất hàng hóa có thể ghi trong tài liệu kèm theo nếu đáp ứng điều kiện và nhãn chỉ rõ nơi ghi.
Chỉ trong phạm vi nội dung và nhóm hàng được pháp luật cho phép thể hiện bằng phương thức điện tử. QR không phải cơ chế để bỏ toàn bộ nội dung bắt buộc trực tiếp trên nhãn.
Nhãn phụ không được che khuất nội dung bắt buộc của nhãn gốc. Doanh nghiệp nên bố trí vị trí sao cho vẫn kiểm tra được LOT, date code, manufacturer, xuất xứ và các thông tin bắt buộc khác.
Không phải mọi lỗi nhãn đều dẫn đến tiêu hủy hàng. Biện pháp khắc phục phụ thuộc hành vi và khả năng tách/sửa nhãn. Nhiều trường hợp có thể bị buộc thu hồi và ghi nhãn đúng trước khi tiếp tục lưu thông; trường hợp không thể khắc phục hoặc có vi phạm nghiêm trọng có thể áp dụng biện pháp khác.
Có thể cần. Từ 10/07/2026, Thông tư 30/2026/TT-BYT là văn bản mới về ghi thành phần dinh dưỡng và giá trị dinh dưỡng. Doanh nghiệp thực phẩm nên rà lại artwork theo phạm vi áp dụng của thông tư này.
Nên rà từ trước khi đặt in/ship hàng. Nhãn gốc đã có yêu cầu ở khâu nhập khẩu, còn nhãn tiếng Việt và giấy phép chuyên ngành phải sẵn sàng trước khi lưu thông. Kiểm tra sau khi hàng về thường làm tăng chi phí dán lại và trì hoãn bán hàng.
Bạn có thể gửi ảnh/artwork nhãn, tên sản phẩm, catalogue/specification, hồ sơ công bố hoặc giấy phép chuyên ngành nếu có, thông tin nhà sản xuất và nhà nhập khẩu. Luật Dương Trí sẽ hỗ trợ lập checklist nội dung bắt buộc, rà xuất xứ – công dụng – cảnh báo và xác định phần cần chỉnh trước khi doanh nghiệp in hàng loạt hoặc đưa hàng ra thị trường.