08/11/2024 | Chia sẻ

Luật môi trường 2014 có điểm nổi bật gì so với năm 2005?

Ngày đăng: Tác giả: Cập nhật:

Luật môi trường 2014 được ban hành với mục tiêu củng cố và nâng cao các quy định pháp lý về bảo vệ môi trường tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn phát triển mới. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin về quá trình ban hành Luật môi trường 2014, những điểm nổi bật cũng như những thay đổi chính của luật so với phiên bản năm 2005.

Luật môi trường 2014 được ban hành khi nào?

Luật môi trường 2014 hay Luật Bảo vệ môi trường 2014 số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) khóa XIII, kỳ họp thứ 7, ban hành ngày 23/6/2014 và thay thế Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 12/12/2005 của Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005.

Luật môi trường 2014 trên tinh thần kế thừa các nội dung của Luật Bảo vệ môi trường 2005, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Bảo vệ môi trường 2005. Luật hóa chủ trương của Đảng, các chính sách mới về bảo vệ môi trường; mở rộng và cụ thể hóa một số nội dung về bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.

Ngoài ra, Luật môi trường 2014 cũng đã xử lý những trùng lặp và mâu thuẫn với các luật khác để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; tạo tiền đề pháp lý để xây dựng các nghị định về bảo vệ môi trường, sắp xếp lại trật tự các chương, điều, câu chữ đảm bảo tính logic và khoa học. Luật môi trường 2014 gồm 20 chương và 170 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, tăng 5 chương và 34 điều so với Luật Bảo vệ môi trường 2005.

Luật môi trường 2014 được ban hành khi nào?
Luật môi trường 2014 được ban hành khi nào?

Một số điểm nổi bật của Luật môi trường 2014 so với Luật 2005 

Về nguyên tắc bảo vệ môi trường

Luật môi trường 2014 có 8 nguyên tắc về bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường 2005 có 5 nguyên tắc). Cơ bản nguyên tác bảo vệ môi trường đã có những thay đổi phù hợp với tình hình thực thực tế hiện nay như: bảo vệ môi trường phải gắn kết với bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), ứng phó BĐKH, sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải; bảo vệ môi trường phải gắn kết với bảo đảm quyền của trẻ em, thúc đẩy giới và bảo đảm mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành. Các nguyên tắc này, đã thể hiện được chủ trương của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.

Dưới góc nhìn của cá nhân, tôi thực sự đánh giá cao việc Luật 2014 đã mở rộng nguyên tắc bảo vệ môi trường, gắn với quyền con người. Quyền được sống trong môi trường trong lành không còn là khẩu hiệu mà đã được luật hóa thành một nguyên tắc nền tảng. Bước tiến này đặc biệt quan trọng khi quyền lợi của mỗi công dân được xác lập trong luật, việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là quyền yêu cầu chính đáng của người dân.

Các hành vi bị nghiêm cấm

Luật môi trường 2014 có 16 hành vi cấm được nêu trong Điều 7 và  Luật Bảo vệ môi trường 2005 cũng có 16 hành vi bị cấm. Tuy nhiên, Luật môi trường 2014 có quy định và bổ sung các hành vi mới bị cấm như: hành vi vận chuyển chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào không khí; đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật; phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái quy định về quản lý môi trường.

Vấn đề quy hoạch bảo vệ môi trường

Luật môi trường 2014 đã xây dựng một mục riêng cho Quy hoạch bảo vệ môi trường đây là nội dung hoàn toàn mới với 5 Điều: nguyên tắc cấp độ, kỳ quy hoạch; nội dung quy hoạch; trách nhiệm lập quy hoạch; tham vấn, thẩm định, phê duyệt quy hoạch; rà soát và điều chỉnh quy hoạch. Theo đó Điều 8 Luật môi trường 2014 thể hiện rất rõ nguyên tắc, cấp độ, kỳ của quy hoạch bảo vệ môi trường như sau:

  1. Quy hoạch bảo vệ môi trường phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

– Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội; chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia bảo đảm phát triển bền vững;

– Bảo đảm thống nhất với quy hoạch sử dụng đất; thống nhất giữa các nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ môi trường;

– Bảo đảm nguyên tắc bảo vệ môi trường quy định tại Điều 4 của Luật môi trường 2014.

  1. Quy hoạch bảo vệ môi trường gồm 2 cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.
  2. Kỳ quy hoạch bảo vệ môi trường là 10 năm, tầm nhìn đến 20 năm.

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 12 cũng quy định cụ thể về rà soát, điều chỉnh quy hoạch bảo vệ môi trường: “Quy hoạch bảo vệ môi trường phải được định kỳ xem xét, rà soát, đánh giá quá trình thực hiện để kịp thời điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn. Thời hạn rà soát định kỳ đối với quy hoạch bảo vệ môi trường là 05 năm kể từ ngày quy hoạch bảo vệ môi trường được phê duyệt”.

So với Luật 2005, phạm vi quy hoạch môi trường trong Luật 2014 có tính khoa học hơn nhiều. Tôi từng chứng kiến nhiều địa phương trước đây quy hoạch phát triển kinh tế nhưng bỏ qua yếu tố môi trường, dẫn tới tình trạng “chữa cháy” rất tốn kém. Với việc luật quy định kỳ quy hoạch 10 năm, tầm nhìn 20 năm, tôi tin đây là cơ sở để phòng ngừa, thay vì chỉ khắc phục hậu quả.

Vấn đề quy hoạch bảo vệ môi trường trong Luật môi trường 2014
Vấn đề quy hoạch bảo vệ môi trường trong Luật môi trường 2014

Đánh giá tác động môi trường

Theo Điều 18, Luật môi trường 2014 quy định chỉ có 3 nhóm đối tượng phải lập Đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Đó là: Các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam đã được xếp hạng; Các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường.

Việc đối tượng lập báo cáo ĐTM được thu hẹp lại hơn so với Luật Bảo vệ môi trường 2005 ( Luật Bảo vệ môi trường 2005 có 7 nhóm đối tượng phải lập ĐTM) có thể nhận định việc hạn chế lạm dụng yêu cầu phải làm báo cáo ĐTM và tính lý thuyết của một số ĐTM  trong thực tiễn.

Theo Luật sư tại Dương Trí, việc thu hẹp đối tượng phải lập Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cũng là một bước tiến hợp lý. Thực tế hành nghề cho thấy, nhiều báo cáo ĐTM trước đây chỉ mang tính hình thức, tốn kém chi phí cho doanh nghiệp nhưng hiệu quả giám sát thấp. Khi luật thu gọn vào những dự án thực sự có nguy cơ cao, tôi cho rằng điều này sẽ giúp tăng tính khả thi và tập trung nguồn lực cho những trường hợp cần thiết nhất.

Kế hoạch nhằm bảo vệ môi trường

Mục 4, Luật môi trường 2014 quy định về Kế hoạch bảo vệ môi trường (thay cho cam kết bảo vệ môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường 2005) có 6 điều (từ Điều 29 – Điều 34). Theo đó, các quy định về thực hiện Kế hoạch bảo vệ môi trường theo Luật môi trường 2014 có nhiều thay đổi so với Luật Bảo vệ môi trường 2005 như:  đối tượng phải lập Kế hoạch bảo vệ môi trường sẽ do Chính phủ quy định, các nội dung Kế hoạch bảo vệ môi trường được mở rộng đến 6 nội dung, trách nhiệm tổ chức thực hiện xác nhận Kế hoạch bảo vệ môi trường bao gồm cả cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường thuộc UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện.

Ứng phó đối với biến đổi khí hậu (BĐKH)

Chương IV Luật môi trường 2014 quy định về ứng phó với BĐKH, đây là nội dung đầu tiên luật hóa những quy định về ứng phó với BĐKH trong mối liên quan chặt chẽ với bảo vệ môi trường. Ứng phó với BĐKH quy định trong Luật môi trường 2014 bao gồm 10 Điều (từ Điều 39 – Điều 48): quy định chung về ứng phó với BĐKH; lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; quản lý phát thải khí nhà kính; quản lý các chất làm suy giảm tầng ozon; phát triển năng lượng tái tạo; sản xuất và tiêu thụ thân thiện với môi trường; thu hồi năng lượng từ chất thải; quyền và trách nhiệm của cộng đồng trong ứng phó với BĐKH; phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ ứng phó với BĐKH và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

Luật đã dành hẳn một chương cho ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH). Đây là lần đầu tiên, vấn đề khí hậu được đặt trong cùng vị trí pháp lý với bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy Việt Nam không đứng ngoài xu thế toàn cầu, đồng thời thể hiện sự chủ động trong việc lồng ghép phát triển bền vững vào mọi chính sách. Theo quan điểm của tôi, đây là tín hiệu rất đáng mừng, vì nó mở đường cho những chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Các quy định trên sẽ làm cơ sở pháp lý để các cơ quan chính quyền các cấp xây dựng các chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể trong lĩnh vực ứng phó với BĐKH trong mối liên quan với bảo vệ môi trường. Ngoài ra, việc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải nhằm hạn chế các khí thải làm suy giảm tầng ozon đã được nhấn mạnh bên cạnh việc khuyến khích thu hồi năng lượng từ chất thải nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong thời điểm phải thích ứng và ứng phó với các tác động của BĐKH.

Ứng phó đối với biến đổi khí hậu (BĐKH) trong Luật môi trường 2014
Ứng phó đối với biến đổi khí hậu (BĐKH) trong Luật môi trường 2014

Bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Luật môi trường 2014 có chương riêng về bảo vệ môi trường biển và hải đảo, có 3 Điều (từ Điều 49-51) bao gồm: quy định chung về bảo vệ môi trường biển và hải đảo, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường biển và hải đảo. Trong khi Luật Bảo vệ môi trường 2005 chỉ có mục 1 là bảo vệ môi trường biển, điều này cho thấy Luật môi trường 2014 có tính bao quát rộng hơn về vấn đề này và tầm quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường biển hải đảo trong giai đoạn đoạn hiện nay.

Bảo vệ môi trường đất 

Luật Bảo vệ môi trường 2005 không có điều khoản riêng về bảo vệ môi trường đất. Tuy nhiên,  Luật môi trường 2014 có mục riêng về bảo vệ môi trường đất, bao gồm 3 Điều (Điều 59 – Điều 61), trong đó có quy định chung về bảo vệ môi trường đất, quản lý môi trường đất và kiểm soát ô nhiễm môi trường đất. Theo đó, mọi hoạt động có sử dụng đất phải xem xét đến môi trường đất và giải pháp bảo vệ môi trường đất; các tổ chức, cá nhân được giao sử dụng đất phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường đất; gây ô nhiễm môi trường đất phải có trách nhiệm xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất.

Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết việc kiểm soát ô nhiễm môi trường đất để bảo đảm các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm đất phải được xác định, kiểm soát; cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm tổ chức kiểm soát ô nhiễm môi trường đất; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm đất tại cơ sở.

Bảo vệ môi trường tại khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp

Luật Bảo vệ môi trường 2005 có quy định về bảo vệ môi trường với khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung nhưng chưa có các quy định chi tiết về bảo vệ môi trường đối với các hình thức tổ chức sản xuất tập trung đang phổ biến hiện nay như: các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp. Luật môi trường 2014 có quy định cụ thể về bảo vệ môi trường khu kinh tế, bảo vệ môi trường khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, bảo vệ môi trường cụm công nghiệp (từ Điều 65 – Điều 67), trong đó quy định rõ chức năng của cơ quan quản lý bảo vệ môi trường, tổ chức và hoạt động bảo vệ môi trường tại các khu vực này.

Bảo vệ môi trường tại khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp theo Luật môi trường 2014
Bảo vệ môi trường tại khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp theo Luật môi trường 2014

Bổ sung quy chuẩn kỹ thuật môi trường

Luật môi trường 2014 quy định bổ sung quy chuẩn kỹ thuật môi trường tại Chương XI (từ Điều 113 – Điều 120), quy định này phù hợp với quy định tại Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006. Theo đó, Luật môi trường 2014 có các quy định chi tiết về quy chuẩn kỹ thuật môi trường xung quanh, quy chuẩn kỹ thuật chất thải và các quy chuẩn kỹ thuật môi trường khác; Ngoài ra còn có các quy định: nguyên tắc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật môi trường; ký hiệu quy chuẩn kỹ thuật môi trường; yêu cầu đối với quy chuẩn kỹ thuật… Đặc biệt, điểm mới ở đây là việc quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường địa phương do UBND cấp tỉnh ban hành.

Bên cạnh đó, Luật môi trường 2014 cũng đã bổ sung các quy định về tăng trưởng xanh, cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững; bổ sung các quy định về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm; kiểm soát chất độc Dioxin có nguồn gốc diệt cỏ do Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam; kiểm soát việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất nói chung và đặc biệt là thuốc bảo vệ thực vật, thú y; bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn.

Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, điều kiện được phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; tái sử dụng chất thải; thời hiệu khởi kiện về môi trường…Bổ sung và làm rõ hơn trách nhiệm công bố thông tin về môi trường, về tình trạng môi trường, trách nhiệm báo cáo công tác quản lý môi trường của cơ quan nhà nước các cấp.

Tóm lại, Luật môi trường 2014 đánh dấu bước tiến lớn trong việc điều chỉnh và bổ sung các quy định phù hợp với tình hình thực tiễn, tạo nền tảng pháp lý để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường. Hiểu rõ và tuân thủ các quy định của Luật môi trường 2014 góp phần xây dựng một môi trường sống trong lành và thúc đẩy phát triển bền vững cho cộng đồng và nền kinh tế nước nhà.

Cá nhân tôi tin rằng Luật môi trường 2014 đã đặt nền móng quan trọng cho các cải cách tiếp theo, điển hình là Luật Bảo vệ môi trường 2020. Nếu không có sự chuẩn bị và thay đổi trong năm 2014, sẽ rất khó để Việt Nam tiến thêm một bước dài về tư duy quản lý môi trường trong giai đoạn gần đây.

Để tiếp nối những thay đổi quan trọng mà Luật Bảo vệ Môi trường 2014 đã mang lại, Luật Bảo vệ Môi trường 2022 tiếp tục có những cải cách vượt bậc, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh mới. Hãy cùng tìm hiểu những điểm mới đáng chú ý trong Luật Bảo vệ Môi trường 2022 qua bài viết tại đây.

Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hoặc hỗ trợ trong việc tuân thủ các quy định mới, công ty Luật Dương Trí luôn sẵn sàng đồng hành cùng bạn, cung cấp các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp và hiệu quả.

? Số điện thoại/Zalo liên hệ tư vấn: 0961.353.606

? Email: contact@luatduongtri.vn

Zalo Luật Sư Hotline WhatsApp