Địa điểm và cơ sở vật chất
Có địa điểm, phòng học, phòng chức năng và thiết bị đáp ứng chương trình giáo dục thường xuyên tại trung tâm.
Mở lớp dạy tiếng Trung tại nhà có cần giấy phép không? Năm 2026 không thể trả lời chỉ dựa vào việc lớp học đặt tại nhà. Bạn cần xác định chương trình tiếng Trung đang dạy có thuộc nội dung môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông hay là khóa giao tiếp, HSK, tăng cường ngoại ngữ nằm ngoài chương trình; đồng thời xác định bạn đang vận hành một lớp nhỏ hay muốn tổ chức cơ sở dưới tư cách trung tâm ngoại ngữ.
Tiếng Trung giao tiếp, HSK hoặc chương trình tăng cường nằm ngoài nội dung môn học do Bộ GD&ĐT ban hành: không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định dạy thêm theo Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT. Tuy nhiên, vẫn phải rà soát đăng ký kinh doanh, địa điểm, thuế, an toàn và mô hình có phải trung tâm ngoại ngữ hay không.
Dạy bổ sung môn tiếng Trung đang thuộc chương trình học của học viên: có thể thuộc hoạt động dạy thêm. Nếu tổ chức ngoài nhà trường có thu tiền, phải thực hiện các yêu cầu về đăng ký kinh doanh, công khai và người dạy theo quy định.
Muốn hoạt động dưới tư cách “Trung tâm tiếng Trung/Trung tâm ngoại ngữ”: cần thực hiện lộ trình trung tâm ngoại ngữ theo Nghị định 125/2024/NĐ-CP và Thông tư 21/2018/TT-BGDĐT.

Không có một loại giấy phép chung mang tên này. Pháp luật hiện điều chỉnh theo bản chất hoạt động: dạy thêm ngoài nhà trường, hoạt động ngoại ngữ tăng cường ngoài chương trình hoặc trung tâm ngoại ngữ.
Vì vậy, việc thuê một phòng tại nhà và dạy 5 học viên không tự động được miễn mọi thủ tục; ngược lại, cũng không có căn cứ để kết luận cứ mở lớp tại nhà là phải xin Giấy phép trung tâm ngoại ngữ.
Không. Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT đã hết hiệu lực từ ngày 14/02/2025 và được thay thế bởi Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT. Từ ngày 15/05/2026, Thông tư 29 tiếp tục được sửa đổi bởi Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT.
Do đó, không tiếp tục làm theo hướng dẫn cũ “đăng ký lớp dạy thêm với UBND xã/phường và công khai giấy phép tổ chức dạy thêm”. Bước đầu tiên hiện nay là xác định chương trình có thực sự thuộc phạm vi dạy thêm hay không.
| Mô hình thực tế | Cách nhận diện | Route cần kiểm tra |
|---|---|---|
| Lớp giao tiếp/HSK/tăng cường ngoài chương trình | Giáo trình riêng, nội dung không phải môn học trong chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành. | Không mặc nhiên thuộc TT29/TT19; rà soát kinh doanh, địa điểm và khả năng thuộc mô hình trung tâm ngoại ngữ. |
| Dạy bổ sung môn tiếng Trung trong chương trình học | Nội dung là dạy học phụ thêm cho môn học mà học sinh đang học theo chương trình thuộc phạm vi quy định. | Quy định dạy thêm ngoài nhà trường theo TT29/TT19. |
| Trung tâm tiếng Trung/ngoại ngữ | Chủ đầu tư muốn tổ chức cơ sở dưới tư cách trung tâm giáo dục thường xuyên, có cơ cấu, quản lý, giáo viên, chương trình và hoạt động đào tạo của trung tâm. | NĐ125/2024 + quy định phân quyền + TT21/2018. |
Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT đã làm rõ: hoạt động tăng cường năng lực ngoại ngữ và các hoạt động giáo dục khác nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh mà không thuộc nội dung chương trình các môn học do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định dạy thêm.
Vì vậy, một khóa tiếng Trung giao tiếp hoặc HSK dùng chương trình độc lập không nên tự động bị xử lý như một lớp dạy thêm môn học.
Nhưng “không thuộc quy định dạy thêm” không có nghĩa là “không cần tuân thủ pháp luật”. Bạn vẫn phải kiểm tra tư cách kinh doanh, địa điểm, nghĩa vụ thuế, an toàn và việc quy mô/cách tổ chức có thuộc route trung tâm ngoại ngữ hay không.
Có thể xem trực tiếp nội dung sửa đổi tại Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT.
Nếu lớp đang dạy học phụ thêm ngoài thời lượng quy định cho môn tiếng Trung thuộc chương trình học của chính nhóm học sinh, cần rà soát quy định dạy thêm.
Trong trường hợp hoạt động ngoài nhà trường có thu tiền, cần chú ý:
Không còn bước xin một “Giấy phép tổ chức dạy thêm” chung như cách nhiều hướng dẫn cũ mô tả.
Nếu hoạt động thuộc dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền, quy định dạy thêm yêu cầu tổ chức/cá nhân phải đăng ký kinh doanh.
Đối với khóa tiếng Trung nằm ngoài phạm vi dạy thêm, nghĩa vụ kinh doanh cần được xác định theo mô hình hoạt động thực tế và pháp luật đăng ký kinh doanh hiện hành. Một hoạt động tổ chức thường xuyên để cung cấp dịch vụ có thu tiền không nên chỉ được coi là “dạy cá nhân tại nhà” rồi bỏ qua bước rà soát tư cách kinh doanh.
Không nên dùng một câu trả lời tuyệt đối “mở lớp HSK chỉ cần hộ kinh doanh”. Hộ kinh doanh có thể là một route phù hợp với mô hình nhỏ trong trường hợp cụ thể, nhưng nếu cách tổ chức thực tế là trung tâm ngoại ngữ thì đăng ký kinh doanh không thay thế thủ tục giáo dục của trung tâm.
Pháp luật không đặt một ngưỡng đơn giản kiểu “trên 10 học viên là trung tâm”. Vì vậy, không nên tự tạo tiêu chí bằng số học viên.
| Tiêu chí cần nhìn | Lớp nhỏ tại nhà | Mô hình trung tâm ngoại ngữ |
|---|---|---|
| Tư cách mong muốn | Tổ chức hoạt động dạy học với quy mô giới hạn theo mô hình kinh doanh phù hợp. | Được thành lập/vận hành dưới tư cách trung tâm ngoại ngữ – cơ sở giáo dục thường xuyên. |
| Cơ cấu vận hành | Thường đơn giản, một hoặc ít người dạy. | Có giám đốc, giáo viên, bộ phận/chức năng và quy chế tổ chức hoạt động. |
| Điều kiện giáo dục | Phụ thuộc route cụ thể của lớp. | Phải đáp ứng Điều 43 NĐ125 và quy định chuyên ngành trung tâm ngoại ngữ. |
| Tên/cách quảng bá | Không nên tự thể hiện như một trung tâm đã được phép nếu chưa có tư cách tương ứng. | Tên trung tâm gắn với quyết định thành lập/cho phép thành lập và hoạt động của trung tâm. |
Nếu kế hoạch của bạn là xây dựng một cơ sở đào tạo ngoại ngữ ổn định với tên trung tâm, nhiều lớp/giáo viên, chương trình đào tạo, bộ máy quản lý và hoạt động tuyển sinh của một trung tâm, nên rà soát trực tiếp route trung tâm ngoại ngữ.
Nghị định 125/2024/NĐ-CP xác định trung tâm ngoại ngữ là một trong các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.
Xem thêm dịch vụ thành lập trung tâm ngoại ngữ nếu kế hoạch của bạn đã vượt khỏi mô hình một lớp nhỏ.
Điều 43 Nghị định 125/2024/NĐ-CP tập trung vào bốn nhóm điều kiện:
Có địa điểm, phòng học, phòng chức năng và thiết bị đáp ứng chương trình giáo dục thường xuyên tại trung tâm.
Có chương trình giáo dục, tài liệu giảng dạy và học tập phù hợp với chương trình trung tâm thực hiện.
Có cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và người lao động đủ số lượng, đạt tiêu chuẩn cho chương trình.
Có dự thảo quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm.
Địa điểm “tại nhà” chỉ phù hợp nếu có thể chứng minh quyền sử dụng hợp pháp và thực tế đáp ứng các điều kiện của mô hình trung tâm. Không nên ký thuê/cải tạo lớn trước khi rà soát điều kiện này.
Theo Thông tư 21/2018/TT-BGDĐT, Giám đốc trung tâm ngoại ngữ cần có nhân thân tốt, năng lực quản lý, trình độ đại học ngoại ngữ hoặc đại học kèm năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 3/tương đương và có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Giáo viên Việt Nam dạy ngoại ngữ tại trung tâm đáp ứng một trong các hướng:
Nếu sử dụng giáo viên bản ngữ/người nước ngoài, tiêu chuẩn phải rà soát theo nhóm tương ứng tại Thông tư 21 và pháp luật lao động, người nước ngoài có liên quan.
Đối với trung tâm do tổ chức/cá nhân đề nghị thành lập, hồ sơ gửi đến Sở Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định 125/2024/NĐ-CP.
Tờ trình, đề án thành lập, tài liệu về địa điểm, căn cứ về nguồn lực đầu tư và dự thảo quy chế tổ chức – hoạt động theo trường hợp.
Trong 05 ngày làm việc từ khi nhận đủ hồ sơ, Sở GD&ĐT thông báo nội dung cần sửa nếu hồ sơ chưa hợp lệ.
Trong 10 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở tổ chức thẩm định hồ sơ và thực tế điều kiện thành lập.
Trong 05 ngày làm việc từ khi có báo cáo thẩm định, nếu đủ điều kiện, Giám đốc Sở GD&ĐT quyết định cho phép thành lập trung tâm.
Nếu đang ở giai đoạn chọn mặt bằng, có thể tham khảo điều kiện mở trung tâm ngoại ngữ trước khi cam kết thuê dài hạn.

Nếu lớp tiếng Trung thuộc phạm vi dạy thêm, giáo viên đang công tác tại nhà trường phải tuân thủ các nghĩa vụ và giới hạn hiện hành về dạy thêm ngoài nhà trường, trong đó có yêu cầu minh bạch và phòng ngừa xung đột lợi ích.
Không nên áp máy móc các hạn chế của hoạt động dạy thêm cho một chương trình ngoại ngữ ngoài phạm vi TT29/TT19. Tuy nhiên, người dạy vẫn phải rà soát quy định về nhà giáo, viên chức/lao động và quy định nội bộ của đơn vị đang công tác nếu có.
Tiếp tục đi xin “giấy phép dạy thêm” theo văn bản đã hết hiệu lực.
Bỏ qua ranh giới mới đối với ngoại ngữ tăng cường ngoài chương trình theo TT19/2026.
Không rà soát kinh doanh, địa điểm và khả năng mô hình thực tế là trung tâm ngoại ngữ.
Đăng ký kinh doanh không thay thế thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ nếu cơ sở vận hành theo tư cách này.
Không có căn cứ để nói 5, 10 hay 20 học viên tự động biến lớp thành trung tâm.
Không phân biệt điều kiện của dạy thêm với tiêu chuẩn nhân sự trung tâm ngoại ngữ.
Với lớp tiếng Trung tại nhà, bước cần làm trước không phải là xin một “giấy phép dạy thêm” mà là xác định chương trình – người học – quy mô – cách vận hành – cách quảng bá để chọn đúng route.
Phân biệt giao tiếp/HSK ngoài chương trình với dạy bổ sung môn học.
Xác định lớp nhỏ, hộ/doanh nghiệp hay kế hoạch thành lập trung tâm ngoại ngữ.
Kiểm tra mặt bằng, bằng cấp, chứng chỉ và các điều kiện trước khi đầu tư.
Nếu mô hình là trung tâm, chuẩn bị hồ sơ thành lập theo Nghị định 125 và quy định hiện hành.
Xem thêm dịch vụ thành lập trung tâm ngoại ngữ hoặc nhóm dịch vụ giấy phép kinh doanh.
Không có một giấy phép chung cho mọi lớp. Cần phân loại chương trình có thuộc dạy thêm hay không và cơ sở có được vận hành dưới tư cách trung tâm ngoại ngữ hay không.
Không. Thông tư 17/2012 đã hết hiệu lực từ 14/02/2025. Không tiếp tục dùng quy trình cũ này cho hồ sơ năm 2026.
Nếu chương trình nhằm tăng cường năng lực ngoại ngữ và không thuộc nội dung môn học do Bộ GD&ĐT ban hành thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định dạy thêm theo Thông tư 19/2026.
Không. Nếu nội dung thực tế là dạy phụ thêm cho môn tiếng Trung thuộc chương trình học của nhóm học sinh đó thì cần rà soát quy định dạy thêm.
Nếu thuộc dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền thì phải đăng ký kinh doanh. Với chương trình ngoài phạm vi dạy thêm, vẫn cần rà soát nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo mô hình hoạt động thực tế.
Không nên coi đăng ký hộ kinh doanh là thay thế cho thủ tục của trung tâm ngoại ngữ. Nếu cơ sở vận hành dưới tư cách trung tâm, cần rà soát Nghị định 125/2024/NĐ-CP.
Các quy định được rà soát không đặt một ngưỡng số học viên đơn giản để xác định. Cần nhìn toàn bộ mô hình tổ chức và tư cách cơ sở.
Đối với trung tâm do tổ chức/cá nhân đề nghị thành lập theo Nghị định 125, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo có thẩm quyền cho phép thành lập theo quy định hiện hành.
Theo Nghị định 125, có giai đoạn kiểm tra hồ sơ 05 ngày làm việc, thẩm định trong 10 ngày và 05 ngày làm việc từ báo cáo thẩm định để ra quyết định nếu đủ điều kiện.
Giáo viên Việt Nam dạy ngoại ngữ tại trung tâm cần bằng cao đẳng sư phạm ngoại ngữ trở lên hoặc bằng cao đẳng ngoại ngữ trở lên kèm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm theo Thông tư 21/2018.
Thông tư 21 yêu cầu điều kiện về nhân thân, năng lực quản lý, trình độ ngoại ngữ và kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Không thể kết luận chỉ từ việc đó là nhà riêng. Cần kiểm tra quyền sử dụng, đăng ký địa điểm, an toàn/PCCC và điều kiện cơ sở vật chất tương ứng với mô hình hoạt động.
Nếu hoạt động thuộc dạy thêm thì phải tuân thủ các giới hạn và nghĩa vụ hiện hành đối với giáo viên. Nếu chương trình ngoài phạm vi dạy thêm, vẫn cần rà soát quy định về nhà giáo, lao động/viên chức và nội quy nơi công tác.
Không nên tự động áp thủ tục trung tâm ngoại ngữ chỉ vì dạy HSK, nhưng cũng không thể kết luận miễn mọi thủ tục. Cần phân loại chương trình, mô hình kinh doanh và cách tổ chức thực tế.
Nên gửi chương trình/giáo trình dự kiến, nhóm học viên, mức học phí, số lớp – giáo viên, địa điểm và cách bạn dự kiến quảng bá cơ sở.
Bạn có thể gửi chương trình/giáo trình, nhóm học viên, số lớp dự kiến, học phí, địa điểm và thông tin người dạy. Luật Dương Trí sẽ hỗ trợ phân loại hoạt động trước khi bạn đăng ký kinh doanh, thuê mặt bằng hoặc đầu tư theo mô hình trung tâm ngoại ngữ.